Thích Học Toán

Bát chiết yêu

chietyeu

 

Tôi sinh ra ở thành thị, không biết nhiều về nông thôn. Hồi bé thỉnh thoảng tôi được bố cho về quê, quê tôi là một cái làng nhỏ nằm ven sông Đáy. Vì không lần nào được ở quê quá một đêm, nên không cảm thấy gắn bó lắm. Cánh cò chấp chới ở cuối cánh đồng cũng gây cho tôi một chút bâng khuâng, nhưng không làm cho tâm hồn xao động như những ngọn gió đông thổi dọc phố Lý Thường Kiệt.

Tự dưng dạo này lại sinh ra cái ước ao được tận mắt nhìn thấy căn nhà ba gian mái tranh của người đồng bằng bắc bộ. Bạn bè dẫn tôi đến nhiều căn nhà ba gian dựng lại theo kiểu xưa, rông rãi thoáng mát và tiện nghi lắm, nhưng cái mà tôi tìm là cái hồn người xưa thì không ở đó. Tôi cũng không rõ cái hồn xưa đó có thật hay nó chỉ tồn tại trong trí tưởng tưởng của những người hoài cổ. Vậy mà tôi vẫn muốn đi tìm nó vì mặc dù chưa được nhìn thấy, tôn tin rằng nó tồn tại, có khi chỉ vì câu thơ của Quang Dũng

“Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn 

Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng”.

Tôi muốn tin rằng làng quê dưới hàng cau hiền lành là cái cốt của văn minh người Việt, chứ không phải mấy thứ u mê úm ba la mà bây giờ có thể nhìn thấy khắp nơi. Tin vậy thôi nhưng mà không chắc.

Hoạ sĩ Bùi Hoài Mai dựng lại một ngôi nhà ở Tiên Du, Bắc ninh. Tôi không rõ nó có giống với cái hình dáng lý tưởng của ngôi nhà Việt mà tôi đi tìm hay không, nhưng nó rất đáng yêu, phòng nào cũng nhỏ, chỗ nào cũng có chút gió mát, có chút hồn người.

Bùi Hoài Mai vốn sinh ra ở Hà nội, bây giờ có thể tự hào vì đã thành một lão nhà quê thực thụ. Bao nhọc nhằn của người nhà quê đã in cả lên cái điệu cười nhăn nhở của lão. Cần bao nhiêu nhọc nhằn để thổi lại chút hồn thơm thảo của người nhà quê vào từng nếp nhà, vào từng mái chùa của cái làng nhỏ ở Tiên Du. Lão thổi nó cả vào mấy cái bát đĩa ấm chén này nữa.

Tôi viết mấy dòng này vì tôi yêu lão Mai lắm, chứ không phải vì lão ấy tặng tôi ba cái bát chiết yêu. Đó là một ngày không thể quên, không phải vì lão Mai nấu ăn ngon, mà vì mải nghe lão Mai ba hoa về quy trình làm đồ gốm mà tôi về Hà nội muộn, không kịp đưa mẹ đi bệnh viện. May mà không làm sao. Phúc tổ bảy mốt đời.

Written by thichhoctoan

03/02/2016 at 16:34

Posted in Uncategorized

Hồ Léman

leman

Written by thichhoctoan

26/01/2016 at 19:51

Posted in Ảnh

Yêu nước

K là giáo sư toán ở đại học Yale, có quốc tich Mỹ nhưng gốc là người Nga, nói tiếng Mỹ vẫn đặc sệt giọng Nga. Có lần tôi hỏi anh ấy lần cuối anh về Nga là khi nào. Anh ấy nói từ khi tôi đi Mỹ tôi chưa quay lại Nga bao giờ. Nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, K nói rằng đối với anh ấy nước Nga cũng giống như bất kỳ một nước nào khác trên thế giới, anh không cảm thấy liên quan đến những gì hiện giờ đang xảy ra ở Nga. Trường hợp của K không phải là một trường hợp phổ biến, nhưng cũng không phải là một trường hợp cá biệt.

Tuy hơi bị bất ngờ nhưng tôi cảm thấy cái lý trong những chia sẻ rất thẳng thắn của K. Nói cho cùng thì tại sao mỗi người phải gắn bó với mảnh đất nơi mình sinh ra.

Một vài lần quá cảnh ở sân bay Hàn quốc hoặc Nhật bản, tôi bắt gặp vài tốp thanh niên Việt Nam, có vẻ như đến từ nông thôn, có vẻ như nói giọng Nghệ An, họ túm năm tụm ba, ngồi bệt uống bia, đánh bài, có vẻ như không quan tâm đến xung quanh, nhưng kỳ thực mắt vẫn nhìn quanh với một vẻ nửa hoang mang, nửa thách thức. Những lúc đó bỗng dưng tôi thấy quặn lòng thương đồng bào của mình. Ai trong số họ đã nợ ngập cổ để mua cho bằng được một suất đi xuất khẩu lao động, ai trong sô họ sẽ phải làm lụng vất vả mấy năm trời để trả hết số tiền đã vay, ai trong lúc bần cùng, nghe bạn bè rủ rê, sẽ đi ăn trộm ăn cắp.

Tại sao lại đồng cảm với họ? Ngoài tiếng Việt là ngôn ngữ có thể dùng để hiểu nhau, ngoài nơi sinh Hà Nội và Nghệ An cách nhau vài trăm cây số, tôi có gì chung với họ. Tại sao tôi vẫn cảm thấy “liên quan” đến số phận của họ? Tôi thấy chỉ có một câu trả lời hợp lý duy nhất: sự “liên quan” đó chính là lòng yêu nước. Nếu đó là tình yêu thì có lẽ không cần tìm cách lý giải nữa.

Chắc chắn mỗi người yêu nước, hoặc không, theo một cách khác nhau. Nhưng tôi cho rằng, yêu nước, về cơ bản, là cảm thấy “liên quan” đến số phận của đồng bào mình.

*****

Tôi rất thích xem bản đồ. Nhìn cái quả cầu xanh xanh nhớ lại chỗ này chỗ kia mình đã đi qua. Nhớ cánh đồng lúa xanh mướt, nhớ con đường nho nhỏ chạy thẳng ra biển mà ở ven ven thấp thoáng những tháp chuông nhà thờ. Nhớ những đỉnh núi hùng vĩ quanh năm tuyết trắng, nhớ những cánh rừng thông xào xạc chạy dọc bờ biển Đại tây dương. Chỗ nào cũng cảm thấy như nhà mình, trái đất là nhà mình, dù rằng có một vài điểm hình như thân thương hơn các điểm khác.

Nếu hay xem bản đồ thế giới, đến một lúc nào đó, bạn sẽ có một phát hiện rất lạ lùng. Hoá ra cái điểm Việt Nam thân thương không hề là trái tim của nhân loại. Nó nằm ở nơi cùng trời cuối đất. Đi tiếp sang phía đông, hay xuống phía nam là biển rộng, là đại dương.

Văn minh nhân loại được mở rộng và phát triển nhờ vào những cuộc viễn chinh, những làn sóng di dân. Chiến tranh và những cuộc di dân, vừa là tai hoạ cho cuộc sống con người, lại vừa là phương tiện chuyên chở  tôn giáo, những tư tưởng nhân văn, những kiến thức về tổ chức xã hội, những phát kiến khoa học và kỹ thuật. Những cuộc chiến tranh, những cuộc di dân, những thảm hoạ đã từng cầy xới châu Âu cũng đã là một nguyên nhân làm cho nó trở nên phồn thịnh, văn minh.

Có lẽ vì đất nước của chúng ta nằm ở nơi cùng trời cuối đất mà trong gần hai ngàn năm, nó hầu như nằm bên rìa của văn minh nhân loại. Chiến tranh, thực ra không nhiều, hầu như đều đến từ phương Bắc, người di dân hầu hết cũng đến từ Trung hoa. Trước khi người Pháp xâm chiếm Việt nam, văn minh Trung hoa là hệ quy chiếu duy nhất của người dân đồng bằng Bắc bộ.

Cuộc sống bây giờ đã khác nhiều. Ngay cả những thanh niên nông thôn mà tôi gặp ở sân bay Narita, dù có lẽ họ không có một hệ quy chiếu nào khác ngoài một bộ ứng xử của người nhà quê, mà nền tảng lý luận dường như là một dạng tối giản của văn minh Trung hoa, họ cũng hiểu rõ họ cần thoát ra ngoài cái khung đó để mưu cầu hạnh phúc, và họ muốn thoát ra bằng mọi giá.

*****

Mấy tuần gần đây, dù muốn hay không, mà thực ra là không muốn, tôi cảm thấy rất quan tâm đến diễn biến chính trị ở Việt nam. Tôi nhận thấy rất nhiều người cũng quan tâm như tôi, có lẽ quan tâm đến Đại hội lần này hơn hẳn so với những Đại hội lần trước, dù rằng về cơ bản, chúng ta không “liên quan” gì đến Đại hội của “họ”.

Cảm giác quan tâm đó đến từ đâu, nếu không phải là khát vọng có ở trong mỗi chúng ta, khát vọng thoát ra khỏi thân phận của một nơi cùng trời cuối đất, gắn vào thế giới bằng một sợi dây lơ lửng buộc vào Trung hoa, thoát ra khỏi cái khung chật chội của Khổng giáo.

Tôi không định nói chúng ta phải quay lưng lại với cốt cách của con người Việt nam truyền thống. Đối với tôi, cậu thanh niên Nghệ an quần áo xộc xệch dáng vẻ lấm lét ở sân bay Narita, dường như thân thương hơn nhiều so với các nam thanh nữ tú Hong kong đang dán mắt vào cửa kính các quầy hàng duty free.

Nhưng tôi mong muốn một khế ước xã hội như những khế ước xã hội đã là nền tảng cho những nước phát triển. Tôi muốn một xã hội công bằng được đảm bảo bởi một nhà nước pháp quyền. Tôi muốn một nền kinh tế lành mạnh, phồn thịnh hoạt động trên nguyên tắc thị trường. Tôi muốn một xã hội mà ở đó người dân có thể tự tổ chức cuộc sống cộng đồng của mình mà không bị cản trở, đó là xã hội dân sự.

Vì cái chúng ta cần là một xã hội công bằng, phồn thịnh và một cuộc sống cộng đồng gắn bó, nên người lãnh đạo mà chúng ta muốn là một người cổ suý cho nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự.

*****

Ngay cả khi không có lá phiếu, người dân cũng cần nói rõ về xã hội mà mình muốn. Nói được cái mình muốn không hề dễ, nó khó hơn nhiều so với nói cái mình không muốn. Nếu không nói được cái mình muốn, nó sẽ không bao giờ xảy ra.

Written by thichhoctoan

26/01/2016 at 19:05

Posted in Độc thoại

Năm năm sau ngày thành lập

Ngày 17/8/2010, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã thay mặt Chính phủ ký quyết định phê duyệt Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển toán học giai đoạn 2010-2020. Ngày 23/12 cùng năm, ông lại thay mặt chính phủ ký quyết định thành lập Viện nghiên cứu cao cấp về toán, là đơn vị hạt nhân triển khai Chương trình trọng điểm.

Viện NCCCT được thiết kế theo một mô hình hoàn toàn mới lạ ở Việt Nam. Ngay từ khi thành lập, Viện đã được hưởng những ưu đãi đặc biệt của Chính phủ, cả trong việc phân bổ ngân sách và  cho phép một cơ chế hành chính thông thoáng, gọn nhẹ. Đây chính là sự thể hiện  kỳ vọng lớn mà chính phủ đặt vào vai trò của Viện NCCCT trong việc tạo nên một sức bật cho toán học Việt nam. Đây cũng là kỳ vọng chung của cộng đồng toán học Việt Nam.

Sau năm năm tồn tại, Viện đã có nhiều đóng góp tích cực cho việc học, dạy và nghiên cứu toán ở Việt Nam; được cộng đồng toán học ở trong và ngoài nước công nhận. Ở nửa chặng đường của chương trình trọng điểm, Viện NCCCT đã có một số thành tựu, đã hiện thực được một phần kỳ vọng mà Chính phủ và Cộng đồng toán học đặt vào nó. Trong bản báo cáo này, tôi xin phép điểm những việc mà Viện đã làm được trong thời gian qua, và cả những việc mà Viện cần làm ở nửa chặng đường sau.

Trên bình diện nghiên cứu cơ bản: Viện NCCCT đã tập trung hỗ trợ những nhóm nghiên cứu ở những chủ đề mạnh truyền thống ở Việt Nam, và ưu tiên cho sự hình thành một số nhóm mới.

Các hướng nghiên cứu mạnh truyền thống ở Việt nam là: Tối ưu, Giải tích phức, Đại số giao hoán, topo đại số, số học … Viện đã đón tiếp các nhóm nghiên cứu ở các chuyên ngành kể trên nhiều hơn một lần. Với điều kiện nghiên cứu tập trung ở Viện NCCCT, các nhóm nghiên cứu đã có điều kiện củng cố hợp tác trong nước và quốc tế, cải thiện đáng kể công bố khoa học. Số lượng công bố khoa học được đăng ký như công trình hoàn thành ở Viện NCCCT cũng như số lượng công bố khoa học ngành toán trong phạm vi cả nước đã tăng gấp đôi trong năm năm gần đây.

Các hướng nghiên cứu chưa mạnh ở VN, nhưng có cơ hội để phát triển là: lý thuyết biểu diễn, tổ hợp xác suất, phương trình đạo hàm riêng và phương trình vật lý toán, hình học vi phân và giải tích trên đa tạp … Ở những lĩnh vực này có những nhà toán học Việt nam rất có uy tín đang làm việc ở nước ngoài như các anh Phạm Hữu Tiệp (Arizona), Vũ Hà Văn (Yale), Dương Hồng Phong (Columbia), đặc biệt bên phương trình, có một nhóm trẻ hơn là các anh Nguyễn Hoài Minh (Zurich), Trần Vĩnh Hưng (Madison), Nguyễn Lực (Oxford) … Những nhóm làm việc ở Việt Nam theo các hướng này còn đang manh nha, trong thời gian tới,Viện sẽ ưu tiên hơn nữa để các anh kể trên về Việt Nam làm việc thường xuyên hơn, có nhiều hơn cơ hội, thời gian để tương tác với sinh viên và các nhà nghiên cứu trẻ ở Việt Nam. Viện đã thiết kế một chức danh mới là Associate members dành cho những nhà toán học rất có uy tín như các anh Phạm Hữu Tiệp, Vũ Hà Văn, với kỳ vọng các anh sẽ đến Viện làm việc thường xuyên và xây dựng trường phái toán học của các anh ở Việt Nam.

Trên bình diện nghiên cứu ứng dụng trong đó có cả ứng dụng của toán học vào thực tế và vào các ngành khoa học khác, Viện đã hết sức nỗ lực. Tuy vậy, bên cạnh một vài thành tựu đáng khích lệ, nhiều dự định vẫn  còn đang phôi thai hoặc hãy còn đang dang dở.

Viện đã hỗ trợ để các anh Hồ Tú Bảo và Nguyễn Xuân Long tổ chức hai trường hè về thống kê  và học máy rất thành công. Thống kê và học máy là một hướng toán học ứng dụng rất nóng, với nhiều ứng dụng quan trọng vào khoa học thông tin và trí tuệ nhân tạo thông qua xử lý các hệ thống dữ liệu lớn. Mặt khác, số lượng các chuyên gia ở VN trong lĩnh vực này còn rất hạn chế.  Vì hai lý do kể trên nên trường hè về thống kê và học máy tổ chức ở Viện NCCCT đã đáp ứng được một nhu cầu rất cấp thiết, và được hưởng ứng rất tích cực (trên dưới 100 học viên). Các anh Hồ Tú Bảo và Nguyễn Xuân Long cũng đã có cam kết gắn bó lâu dài với công việc của Viện thông qua chức danh Associate Member. Cũng trong lĩnh vực thống kê, nhờ vào hợp tác chặt chẽ với Pháp, trong năm 2015, một nhóm các nhà toán học thống kê  của Pháp đã sang giảng nhiều chuỗi bài giảng khá cơ bản về chuyên ngành này ở Viện. Tuy nhiên có lẽ vì ngôn ngữ vẫn còn là rào cản, các khoá học do các giáo sư Pháp đảm nhiệm, tuy basic và cụ thể hơn nhưng ít được hưởng ứng hơn (~ 20 học viên) so với trường hè về học máy, tuy rằng nội dung trường hè phần nào trừu tượng hơn.

Hè 2014, Viện đã tổ chức một trường hè và giai đoạn nghiên cứu tập trung với chủ đề là ứng dụng của toán học trong cơ học, với sự tham gia là một nhóm các nhà cơ học Pháp, hợp tác với những người nghiên cứu cơ học ở Việt Nam. Trường hè Cơ học 2014 được sự hưởng ứng tích cực từ cộng đồng cơ học Việt nam. Tuy vậy, dường như chúng tôi không cảm nhận được hiệu quả rõ nét của chương trình trong việc đẩy mạnh nghiên cứu Cơ học ở Việt Nam. Viện NCCCT luôn mở cửa cho những hoạt động nghiên cứu liên ngành, nhưng chúng tôi cũng sẽ rút kinh nghiệm từ những khó khăn của nghiên cứu liên ngành ở VN.

Viện NCCCT đã rất nỗ lực trong việc triển khai các hoạt động nghiên cứu ứng dụng trực tiếp vào thực tế. Tuy yêu cầu là vô cùng lớn, khó khăn thực tế còn lớn hơn nhiều, cho nên những thành công của Viện còn khiêm tốn.

Viện đã phối hợp với Viện nghiên cứu Viettel trong việc thống nhất các dữ liệu radar để xác định quỹ đạo máy bay địch. Tuy chưa đạt được độ chính xác ở tiêu chuẩn của các nước với nền công nghệ tiên tiến, đề tài nghiên cứu này đã góp phần cải thiện đáng kể độ chính xác vốn có.

Viện đã bắt đầu phối hợp với một nhóm các nhà khoa học Pháp, dưới sự điều phối của GS. Nguyễn Kim Đan (Caen) để tính toán mức độ xói lở bờ biển ở khu vực Hội An. Tuy dự án này còn đang ở trong giai đoạn thai nghén, Viện có kỳ vọng Dự án này sẽ có đóng góp trong việc giải quyết một vấn đề thực tế nghiêm trọng.

Trong số các dự án nghiên cứu ứng dụng thực tế, kế hoạch có quy mô lớn nhất là thành lập trung tâm Toán học ứng dụng trong kinh tế, tài chính và ngân hàng (Fmathlab) vào đầu năm nay. Đối tác chiến lược của dự án này là Ngân hàng đầu tư phát triển (BIDV). BIDV cam kết hỗ trợ hơn 40 tỷ đồng trong thời gian năm năm cho các hoạt động của FMathlab. Tuy việc triển khai công việc của FMathlab hiện còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu liên quan đến các quy tắc hành chính còn nặng nề, nhưng chúng tôi rất kỳ vọng vào sự phát triển tương lai của toán tài chính ở Việt Nam, mà Fmathlab sẽ là hạt nhân.

Một trong những khó khăn căn bản cho việc phát triển toán học ứng dụng ở VN là lực lương những người làm toán ứng dụng có trình độ cao còn rất mỏng. Tuy vậy, lưc lượng người Việt nam ở nước ngoài làm toán ứng dụng, đặc biệt trong lĩnh vực toán tài chính, là khá mạnh. Vai trò của Viện NCCCT sẽ là kết nối lâu dài với những chuyên gia người Việt ở nước ngoài để tham gia giải quyết những bài toán từ thực tế Việt nam đặt ra, qua nhiều hình thức, trong đó có thông qua chức danh Associate members.

Trên bình diện đào tạo, Viện NCCCT đã thực hiện tốt vai trò hạt nhân của chương trình trọng điểm trong việc tổ chức các khoá bồi dưỡng học sinh giỏi toán, các khoá huấn luyện giáo viên chuyên toán, các trường hè cho sinh viên trên cả ba miền  đất nước. Những hoạt động này phần lớn đã có từ trước. Vai trò của Viện NCCCT là nhân rộng các mô hình tốt, hỗ trợ trong các khâu tổ chức, để mô hình hình tốt hoạt động còn tốt hơn nữa.

Trong giai đoạn hai của chương trình trọng điểm, một mục tiêu lớn của Viện NCCCT là xây dựng một chương trình đào tạo tiến sĩ xuất sắc, dựa vào sự phối hợp với các trường đại học lớn ở Hà nội, và các trường đại học nước ngoài đặc biệt là ở châu Âu. Nhìn từ góc độ chất lượng chung, đào tạo tiến sĩ ở Việt nam còn nhiều bất cập. Mặt khác có thể nhận thấy, có chương trình đào tạo tiến sĩ với chất lượng được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận cần được coi là ưu tiên số một, nếu Đại học Việt nam muốn cải thiện đẳng cấp của mình. Đối với Viện NCCCT, đây sẽ là một mục tiêu quan trọng hàng đầu, thực hiện sẽ rất khó khăn, nhưng không thể không hoàn thành. Người khởi xướng và chủ trì chương trình này là GS. Nguyễn Hữu Dư.

Trên bình diện quan hệ quốc tế, Viện NCCCT đã gặt hái được nhiều thành công. Viện đã tổ chức và hỗ trợ  tổ chức những hội nghị quốc tế có quy mô lớn trong đó có Hội nghị toán học Việt Pháp 2013, Hội nghị tính toán hiệu năng cao 2013 và 2015, Hội nghị số học châu Á 2014 …  Viện có Hội thảo thường niên vào cuối tuần cuối cùng cuả tháng tám, mời được nhiều ngôi sao trong bầu trời toán học cập nhật về những tiến bộ quan trọng của toán học đương đại. Những bài giảng ở Hội thảo thường niên được đăng trong một số đặc biệt của tạp chí Acta Mathematica Vietnamica, đã góp phần tăng chỉ số truy cập của Acta lên nhiều lần.

Một trong những điểm rất bất lợi của khoa học Việt nam là không có tạp chí được xếp loại ISI. Viện NCCCT không có chủ trương xây dựng một tạp chí mới, vì việc này đòi hỏi mức độ đầu tư cả về kinh phí và công sức quá lớn, mà chia nguồn lực của mình vào hai hướng thực tế hơn: một là khai thác các bài viết chất lượng cao của Hội thảo thường niên để nâng cấp và ủng hộ cho Acta được xếp loại ISI, hai là xây dựng chuỗi bài bài giảng VIASM như một subseries trong một series đã có tên tuổi và tất nhiên đã được công nhận ISI từ lâu. Viện đã đàm phán với nhà xuất bản Springer về viêc này và sẽ nỗ lực triển khai trong giai đoạn sắp tới.

Trong giai đoạn hai của chương trình, Viện NCCCT sẽ tiếp tục tổ chức và hỗ trợ tổ chức các hội nghị quốc tế qui mô; trong đó có Hội nghị mật mã châu Á cuối năm 2016, dự kiến có Hội nghị toán học châu Á 2017, và Hội nghị toán học Việt Mỹ 2019.

Viện NCCCT có được sự cộng tác, hậu thuẫn đáng kể của cộng đồng toán học quốc tế. Đã có gần 100 nhà toán học hàng đầu thế giới đến tham gia nghiên cứu ở Viện mà trong đó một số nhà toàn học hoàn toàn tự túc về kinh phí hoặc Viện chỉ hỗ trợ một phần kinh phí. Trong các quan hệ quốc tế rộng của Viện, đối tác nhiệt tình và bền bỉ nhất là labo quốc tế của Viện nghiên cứu khoa học pháp do GS. Lionel Schwartz điều phối. Labo này đã tổ chức và cấp kinh phí cho nhiều nhà toán học Pháp sang phối hợp nghiên cứu và giảng dạy ở VN. Viện NCCCT đã dành một phòng làm việc để đón tiếp các chuyên gia từ labo của GS. Schwartz. Viện cũng đã ký kết hợp tác với các Viện nghiên cứu trong vùng đặc biệt là ở Hàn Quốc, và Singapore và sẽ rất chú trọng cho việc hợp tác trong vùng.Viện NCCCT đã bước đầu xây dựng được uy tín quốc tế, như một hình mẫu cho việc hỗ trợ nghiên cứu khoa học đỉnh cao ở các nước đang phát triển.

Trên đây tôi đã trình bày với quý vị về bốn mảng công tác chính của Viện NCCCT: nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu cơ bản, đào tạo và quan hệ quốc tế,  những gì đã làm được trong giai đoạn đầu của chương trình trọng điểm, và những gì cần phải làm trong giai đoạn hai. Tôi xin phép dành thêm chút thời gian của Quý vị để trình bày về nền tảng vật chất và tinh thần của Viện.

Trong giai đoạn 2010-2015, Viện toạ lạc tại tầng 7 của toà nhà thư viện điện tử Tạ Quang Bửu, thuê lại của Đại học bách khoa Hà nội. Trong giới hạn eo hẹp về diện tích và kinh phí, Viện đã thiết kế một hạ tầng ngăn nắp, thuận tiện cho công việc nghiên cứu và đào tạo, tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế.

Với sự ủng hộ to lớn của Chính phủ và Bộ giáo dục và đào tạo, Viện đang hoàn tất các thủ tục để có một cơ sở riêng, rộng rãi và ổn định hơn. Viện kỳ vọng có thể chuyển về cơ sở mới cuối 2016 hoặc muộn nhất là 2017. Có một cơ sở riêng, ổn định và có diện tích lớn hơn, trong đó có khu nhà công vụ cho các nhà khoa học đến Viện làm việc, là một nhu cầu cấp bách để Viện có thể thực hiện được kỳ vọng lớn lao mà nhà nước và cộng đồng toán học đặt vào vai trò của Viện.

Ngay từ đầu, bộ máy của Viện đã được thiết kế theo chủ trương gọn nhẹ và hiệu quả. Người chịu trách nhiệm vận hành Viện là giám đốc điều hành, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 3 năm. Giám đốc điều hành đầu tiên là GS. Lê Tuấn Hoa, người đã có công lớn cho việc xây dựng Viện từ con số không. Giám đốc điều hành thứ hai là GS. Nguyễn Hữu Dư, người bên cạnh việc làm cho hoạt động của Viện trơn tru và hiệu quả hơn, đang đặt nền tảng cho việc mở rộng quy mô của Viện. Chị Nguyễn Thị Lê Hương, phó giám đốc, đã theo dõi, đôn đốc sát sao mọi hoạt động của Viện, đặc biệt là các hoạt động ngày càng nhiều ở mảng đào tạo. Văn phòng Viện do các anh Nguyễn Ngọc Tuấn và Nguyễn Ngọc Khôi điều phối đã thực hiện một khối lượng công việc rất lớn trong đó có việc hỗ trợ các nhà khoa học đến Viện làm việc, tổ chức rất nhiều hội nghị, hội thảo, trường hè, khoá bồi dưỡng, tập huấn.

Linh hồn của các hoạt động khoa học của Viện là HĐKH, hội tụ những nhà toán học hàng đầu VN ở trong và ngoài nước như các GS. Ngô Việt Trung, Nguyễn Hữu Việt Hưng, Đỗ Đức Thái, Phan QUốc Khánh, Dương Minh Đức. HĐKH chỉ họp hai năm một lần, lần đầu vào tháng ba để xét tuyển chọn hồ sơ khoa học cho năm tiếp theo, một lần vào hè để thảo luân về định hướng khoa học chung của Viện. HĐKH do Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo bổ nhiểm theo nhiệm kỳ 3 năm, có rất ít thay đổi giữa HĐKH nhiệm kỳ 1 và nhiệm kỳ 2. HĐKH đã làm việc rất tận tâm, với tinh thần khoa học vô tư và khách quan.

Để triển khai các hoạt động đào tạo của chương trình như tổ chức các khoá bồi dưỡng, tập huấn, Viện NCCCT đã nhận được sự hỗ trợ đầy tinh thần trách nhiệm của nhiều nhà toán học ở các cơ sở khác, đặc biệt là Viện toán và trường Sư Phạm mà tiêu biểu là các anh chị Trần Nam Dũng, Phan Thị Hà Dương, Phùng Hồ Hải, Nguyễn Chu Gia Vượng, Vũ Thế Khôi, Trần Văn Tấn…

Trong giai đoạn hai, để thực hiện chương trình đào tạo tiến sĩ chất lượng cao , Viện NCCCT sẽ cần thêm sự hỗ trợ của các đồng nghiệp ở Viện toán học, trường Sư phạm Hà nội, trường Đại học khoa học tự nhiên và các trường khác, và bên cạnh đó Viện NCCCT sẽ phải dựa vào lực lượng associate members, cũng như các đối tác quốc tế.

Qua trình bày trên, quý vị thấy rõ những thành công bước đầu của Viện NCCCT phụ thuộc rất nhiều và sự đồng thuận, sự hỗ trợ mạnh mẽ của cộng đồng toán học trong nước và quốc tế. Có những nhiều đồng nghiệp đã ủng hộ chúng tôi trong việc tổ chức, triển khai những hoạt động cụ thể, tiêu biểu là các thành viên của HĐKH và các anh, chị mà tôi vừa nêu tên. Có nhiều đồng nghiệp lão thành, mà điển hình là GS. Hoàng Tuỵ, GS. Hà Huy Khoái, GS. Trần Văn Nhung, đã luôn sát cánh cùng Viện NCCCT, là chỗ dựa tinh thần, và tư vấn từng đường đi nước bước.

Cũng không thể không nhắc đến vai trò của các tổ chức dân sự đã hết lòng hỗ trợ Viện NCCCT trong việc thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng, mà điển hình là việc tổ chức ngày hội Toán học trong vỏ hạt dẻ hôm nay. Một số cá nhân, công ty, đã ủng hộ rất thiết thực ngay từ những ngày đầu khó khăn, cho Viện mượn từ máy tính đến thư ký, giúp Viện xây dựng trang mạng.

Với cương vị giám đốc khoa học của Viện NCCCT, tôi xin cảm ơn sự đồng thuận và ủng hộ của cộng đồng toán học trong nước và quốc tế.

Với cương vị giám đốc khoa học của Viện NCCCT, tôi xin bày tỏ sự biết ơn đối với sự tin tưởng và hỗ trợ bền bỉ và mạnh mẽ mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Bộ giáo dục vào đào tạo, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận, Thứ trưởng Trần Quang Quý, Thứ trưởng Bùi Văn Ga, và các Bộ liên quan đã dành cho Viện. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ, của Bộ giáo dục và đào tạo và các Bộ liên quan trong giai đoạn tiếp theo của Chương trình trọng điểm, để Viện hoàn thành hết vai trò của mình trong việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học, cơ bản và ứng dụng, về số lượng và đặc biệt về chất lượng, cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy toán học, từ chuyên toán đến đạo tạo tiến sĩ.

Tập thể Viện NCCCT cam kết nỗ lực hết sức cho sự phát triển của toán học Việt Nam.

Xin cảm ơn các quý vị đã lắng nghe.

 

 

Written by thichhoctoan

20/12/2015 at 03:55

Posted in Uncategorized

Trịnh Lữ

chau

Written by thichhoctoan

02/12/2015 at 15:37

Posted in Uncategorized

Tagged with

Lời giới thiệu cho sách “Tình yêu và toán học”

Tôi gặp Edward Frenkel lần đầu vào năm 1999 khi anh đến Paris báo cáo trong hội thảo thường niên của Bourbaki. Tuy chỉ hơn tôi bốn tuổi nhưng vào thời điểm đó, khi tôi còn chập chững bước vào nghề, thì anh đã có ghế giáo sư đại học Berkeley và là một ngôi sao đang lên trong bầu trời toán học. Phiên báo cáo của anh gây ấn tượng khó quên. Anh trình bày về một vấn đề hóc búa, rất trừu tượng với một vẻ dễ dàng, thảnh thơi. Anh có một phong cách rất lạ so với các nhà toán học khác, và có gì đó hao hao giống một tài tử điện ảnh.

Khoảng mười năm sau, tôi có dịp cộng tác khoa học với Edward trong một thời gian khá dài. Làm việc cùng nhau, tôi nhận ra ở anh nhiều năng khiếu trong đó có khả năng nắm bắt vấn đề rất nhanh để rồi phát biểu và diễn giải nó một cách vô cùng trong sáng và lịch lãm. Năng khiếu đó được Edward vận dụng trong quyển sách mà quý độc giả đang cầm trên tay để giải thích những khái niệm hóc búa của toán học và vật lý thuyết bằng ngôn ngữ mà trên nguyên tắc ai cũng có thể hiểu được.

Viết về toán học cho công chúng hàm chứa nhiều rủi ro. Bạn luôn đi giữa hai bờ vực, một bên là ngôn ngữ hàn lâm có tính chất đánh đố với độc giả phổ thông, một bên là ngôn ngữ đời thường, đôi khi dễ dãi, làm bạn trượt chân rơi vào vực thẳm của sự thiếu chính xác, của sự tối nghĩa. Tác giả Edward Frenkel dường như đã tìm được sợi dây mỏng tang giữa hai hai vực thẳm rồi bước trên sợi dây đấy những bước chân thảnh thơi, giống như ta tản bộ sáng mỗi ngày.

Một số người làm toán chuyên nghiệp, trong đó có tôi, chưa thực sự mãn nguyện khi đọc cuốn sách này. Khi nói về chương trình Langlands, tác giả dường như né tránh bằng cách giữ im lặng những gì sâu sắc nhất. Nhưng sẽ không công bằng khi độc giả cứ mong muốn tác giả phải diễn đạt những ý tưởng toán học sâu sắc nhất bằng ngôn ngữ đời thường, một việc rất có thể là bất khả.

Rất may mắn, chương trình Langlands và vật lý lý thuyết chỉ là món dessert cho cuốn sách này. Món chính cũng chính là tên cuốn sách “tình yêu và toán học”; mà nếu chúng ta bỏ chữ “và” đi thì sẽ đúng nghĩa hơn. Tác giả đã thuật lại câu chuyện tình yêu của mình với toán học, từ lúc là một cậu bé sống trong một thành phố nhỏ của Liên bang Xô Viết, được tiếp nhận vào môi trường toán học sôi động ở Moscow, rồi cuối cùng là Harvard và Berkeley.

Đối với một người ở “ngoại vi” như tôi, môi trường toán học Xô Viết luôn là một bí mật đầy hấp dẫn. Phải chăng sự thiếu thốn vật chất và thông tin, không khí kỳ thị Do Thái (mà tác giả dành nhiều trang sách để đề cập tới), chính là chất xúc tác trực tiếp hay gián tiếp làm cho toán học sinh trưởng. Liệu sự thiếu thốn vật chất, thông tin, và kỳ thị sắc tộc, có tạo nên một môi trường lý tưởng cho sự phát triển của toán học? Câu chuyện của tác giả, được thuật lại một cách chân thực, cho phép độc giả bước một chân vào phía sau bức màn bí mật ấy.

Cảm ơn các dịch giả Phạm Văn Thiều và Nguyễn Duy Khánh, và nhà sách Nhã Nam đã mang cuốn sách thú vị này tới tay các bạn đọc Việt Nam.

Written by thichhoctoan

22/06/2015 at 16:04

Posted in Sách

Giới thiệu sách “Kẻ trăn trở”

Anh Lương Hoài Nam không phải là nhà báo. Công việc thường ngày của anh cũng không phải là nghiên cứu giáo dục. Anh làm việc trong lĩnh vực kinh doanh hàng không và du lịch. Vậy mà trong một vài năm gần đây, anh Nam đã viết hàng chục bài về đề tài cải cách giáo dục đăng tải trên cả báo giấy, báo điện tử và mạng xã hội. Những bài viết của anh luôn đầy ắp tư liệu, được dẫn dắt bởi tư duy mạch lạc và trình bày với văn phong trong sáng, dễ hiểu.

Tôi nghĩ rằng để đọc những bài viết của anh Nam về giáo dục, nên bắt đầu bằng bài viết mang tính tự sự : “Từ lũy tre làng ra biển lớn & Nhận thức về “Tây học”. Đây cũng là một trong những bài viết mà tôi thích nhất. Câu chuyện từ luỹ tre làng đi ra biển lớn hẳn không phải là chuyện riêng của anh Nam, mà là của đa số trong chúng ta và có lẽ không nên e ngại xáo ngữ mà không khái quát nó lên như câu chuyện của dân tộc.

Trong câu chuyện giáo dục, câu hỏi anh (hay tôi) thuộc về luỹ tre làng hay thuộc về biển lớn thực ra không quan trọng lắm. Câu hỏi quan trọng là anh có muốn con anh sống với thế giới rộng lớn hơn thế giới của chính bản thân anh hay không? Nếu chúng ta đã thực sự rành mạch với bản thân mình rồi thì câu hỏi chọn mô hình nào cho giáo dục sẽ không cần bàn cãi nhiều nữa.

Đọc những bài anh Nam viết riêng về giáo dục, tôi vẫn nhận ra tư duy của doanh nhân hàng ngày vật lộn với sự khốc liệt của môi trường cạnh tranh. Tôi dạy học và nghiên cứu ở một đại học, công việc của tôi rất khác với công việc của anh Nam. Nhưng có một điểm chung trong suy nghĩ của tôi và anh là khi mình đã chấp nhận sống trong môi trường cạnh tranh của thế giới rộng mở, mình phải cất thật kỹ những bản sắc dân tộc, có thể là rất thiêng liêng với cuộc sống riêng tư của mình, để mà hoà nhập hoàn toàn vào cuộc chơi chung. Không làm được như vậy thì ta chỉ còn cách tự an ủi với vị thế của người thua cuộc.

Với tư duy mạch lạc của một doanh nhân có nhiều kinh nghiệm, những bài viết của anh Nam luôn dựa trên những bảng biểu đối sánh, những con số cụ thể. Anh cũng nhìn giáo dục từ quan điểm của thị trường lao động, mong muốn giáo dục đáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu của nền kinh tế, thay vì chỉ hướng tới các giá trị chân thiện mỹ.

Hy vọng tuyển tập này với những bài viết của anh Lương Hoài Nam về giáo dục và cả về những chủ đề xã hội khác, sẽ đến được tay của nhiều bạn đọc. Tôi tin rằng những trăn trở của anh sẽ gặp gỡ nhiều trăn trở của những người khác, để thai nghén những vận động tích cực của xã hội.

Written by thichhoctoan

22/06/2015 at 11:48

Posted in Uncategorized

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 963 other followers