Thích Học Toán

Đau lòng sổ bụi, những bức thư không gửi

with 8 comments

Bài của Trần Trọng Vũ, đã đăng trên blog Thích Học Toán (cũ).

*****

Năm 1993 tôi  được đọc lần đầu Paul Auster qua bản dịch tiếng Pháp « L’invention de la solitude ». Cuốn tiểu thuyết mang nhiều tự sự, nhật ký và hồi ký. Sau khi cha ông mất, nhà văn trở lại căn hộ nơi gia đình ông đã sống nhiều năm trước, để ngồi lại trong phòng riêng của cha, để nhận ra rằng ông đã không biết gì nhiều về cha ông, để lục tìm những đồ vật cũ, gạn hỏi quá khứ, để hiểu hơn về con người này. Thời ấy, họ sống ngay cạnh nhau, trong cùng một căn hộ, nhưng mỗi người trong phòng của mình, nhưng không có những chia sẻ thân thiết. Vì nỗi cô đơn của mỗi người quá lớn. Cuộc tìm kiếm quá khứ của nhà văn lại kéo dài khoảng cách của họ. Những sự kiện đến từ quá khứ mỗi lúc một thêm cụ thể thì hình ảnh cha ông ngày càng mờ nhạt, đến lúc dường như cha ông chưa bao giờ tồn tại trong cuộc đời của ông.

Năm 1997, bố tôi, nhà thơ Trần Dần mất tại Hà  Nội. Phải đợi nhiều thời gian sau tôi mới cảm thấy sẵn sàng mở lại di cảo của ông. Nhưng không phải với hy vọng được xích lại gần với ông hơn, không phải để hiểu ông hơn. Cũng không phải vì sợ mất ông. Tôi đã không thể xử sự được như trong văn học. Quan hệ chật hẹp của chúng tôi chưa bao giờ sóng gió đã cho phép tôi lựa chọn phần riêng tư nhất trong hàng trăm bản thảo và tình phụ tử nhiều ích kỉ dĩ nhiên đã khiến tôi, một cách tầm thường nhất, chỉ giữ lại những gì liên quan đến con người Trần Dần, và nhà thơ Trần Dần.

Tất cả  những sổ nhật ký của ông đều còn nguyên vẹn, nối liền những năm những tháng, ròng rã từ năm 1954 tới 1989. Nếu như những sổ tay đầu mang đề tựa Ghi vặt, có thể giúp tôi đọc lại được nhật ký của một người bố, một người chồng, một người yêu, thông qua những sự kiện thường nhật  thì từ năm 1973 những sổ nhật ký đã trở thành những sổ thơ và từ năm 1979 là những sổ bụi hoặc vở bụi. Không còn những chuyện đời thường, để có thể đem kể lại cho một ai đó để cung cấp bí mật về các nhân vật có thật hoặc để làm tổn thương danh dự của một vài người. Không còn cách nào khác là phải đọc cuộc đời của ông bằng văn học.

Nhưng một lần nữa tính ích kỉ của lòng hiếu lại cho phép tôi được xếp trả vào di cảo một phần rất lớn của những sổ thơ và sổ bụi này. Đó là khi nhà thơ viết lại những suy nghĩ chồng chéo của ông về một cuốn sách, một đoạn trích, một tác giả, một buổi nói chuyện văn học, một ý kiến triết học hoặc Phật học, hoặc Kinh dịch, trong những phép chính tả của riêng ông, đôi khi trong những ký hiệu thị giác không ai có thể giải mã được.

Tôi chỉ có thể lấy ra những câu thơ hoặc bài thơ nằm rải rác khắp nơi trong ba mươi tư sổ tay-nhật ký văn học của ông, như những hạt bụi trong muôn vàn cơn mưa bụi.

1. TÔI và CHO TÔI

Nếu như  các nhân vật xưng TÔI  của Nhất định thắng, Cổng tỉnh, Bài thơ Việt Bắc , Jờ joạcx, Mùa sạch…có thể gợi ý người đọc liên tưởng tới Trần Dần thì chữ TÔI của các sổ bụi được khẳng định là tác giả khi ông gọi chúng là journal sauvage, là nhật ký anti-tự sự. Phản tự sự không có nghĩa không có tự sự, mà trái lại tự sự là một trong những vị trí trung tâm của nhật ký. Không có tự sự thì làm sao phản được tự sự ?  Nhưng nhật ký theo kiểu Trần Dần lại vượt khỏi mọi giới hạn của tự sự, để trở thành VĂN HỌC. Tự sự bị phản bội bởi chính nhà thơ vì văn học không bao giờ thuộc sở hữu của một người.

Chữ  TÔI của ông, từ sổ thơ đến sổ  bụi, không dùng để làm đối thoại. Những hội thoại văn học được bình lại trong nhật ký thường không có chữ TÔI. Rất khó tìm thấy ở  đây những đại từ nhân xưng mà người Việt  ưa dùng để định vị trí, đẳng cấp của nhau, và để tỏ thái độ với nhau. Khi thuật lại một cuộc nói chuyện ba người dài suốt cả một cuốn sổ thơ (1976) ông bắt đầu thế này:

« Một hôm, vô hại, vô thưởng vô phạt, như mọi hôm vô vị vô mùi:

BÀNG : Có khi cần một travail symbolique ?

ỔI :        Không, không, mọi thiết định ! Không ?

CÁT :    Làm quái gì, travail théorique ?

BÀNG : Ừ, làm quái gì ? …»

(Bàng = Trần Dần. Ổi = Đặng Đình Hưng. Cát = Đoàn Chúc : chú thích của ttv). Không thấy ai xưng danh cả. Và những trang thoại dài như thế đòi được giải mã, chỉ ngay từ những cái tên người. Nhưng tôi không nghĩ tất cả những độc thoại này đều chỉ đơn thuần là những ghi chép? Mà là một hình thức của văn luận? Nếu có chữ TÔI trong những tranh luận này thì đó là những câu trích thơ của ông, lấy lại từ chính những trang khác của nhật ký. TÔI của sổ thơ của sổ bụi là chữ dành riêng cho tự sự, và cho thơ. TÔI không thể đứng chung với một người nào khác. TÔI để báo trước một cá thể cô độc. Có thể dựng lại chân dung và cuộc đời của người xưng TÔI, một cách hoàn chỉnh, từ lúc sinh tới khi chết, thông qua rất nhiều chữ TÔI như thế này:

Tôi chôn rau ở tận trời sao.

(Sổ thơ 1973)

Tôi chẳng phải tù binh quả đất.

(Sổ bụi 1979)

Tôi đã leo nhiều ngõ cụt cổ điển.

(Sổ bụi 1979)

Tôi không bao giờ hú với chó sói, chỉ  một tội này họ chẳng thể tha tôi.

(Sổ bụi 1982)

Chết đi, tôi vẫn mất ngủ.

(Sổ bụi 1988)

TÔI bao giờ cũng ngạo ngễ, đầy khí phách, nhưng cũng không ít mâu thuẫn, không ít dằn vặt, không kém phức tạp. Những cuộc gặp gỡ trong văn chương Việt Nam thường xuyên chỉ cho tôi làm quen với những cái tôi đạo đức như ngọn cỏ, hoặc dễ chịu như một vị anh hùng không có thật. Ít thấy ở đâu có ai dám đặt mình bên cạnh quả đất, vũ trụ, nhân loại, chân trời, cõi chết, vì sao bay, hoặc tồi nhất thì cũng dám đứng gần chó sói, sâu bọ, nhà tù… TÔI của sổ bụi  không bao giờ còn đi cùng một cái tên cụ thể, dù chỉ là một địa chỉ như Tôi ở phố Sinh Từ của năm 1955. Cùng với thời gian phố Sinh Từ đã bước ra khỏi cuộc đời nhà thơ, ra khỏi bản đồ hành chính thành phố Hà Nội, để ba mươi hai năm sau ông viết : Tôi sống ở hai chân trời… một trời hoành đạt, một  trời sao bay ?

Chữ TÔI của sổ bụi thường xuyên được đặt cùng với những yếu tố tích cực, luôn thay đổi, luôn chuyển động, không kích thước: chân trời, chân mây, gió, mưa, các vì sao. Ông đã đến rất nhiều chân trời để biết rằng  mỗi thay đổi chân trời/ một thay đổi nhân sinh, để báo trước « đám ma tôi » : hôm ấy- lã chã sáu chân trời, lã chã sáu chân mây . Và cũng để thú nhận rằng ông  mỗi ngày thay áo mấy chân mây. Và các chân trời cũng đối ngược nhau làm sao. Nếu có một lúc nào đó ông nói: ở một chân trời tôi mở những chân mây,  nếu có một lúc nào đó ông phàn nàn: những giờ phút vắng chân mây ? bao nhiêu lấp hổng không vừa, thì cũng nhiều khi chân trời lại làm ông thất vọng:  bốn cẳng chạy tới chân trời ? không bõ ? không bõ ? vớt về một canh cánh chiêm bao.

Chữ  TÔI có vẻ bất biến, nhưng ở phía sau lúc nào cũng hiện rõ một con người, cũng đau, cũng ốm, cũng buồn, cũng nợ, cũng hy vọng, cũng nổi loạn. Và cái đau ấy, con bệnh ấy không còn nằm trong khuôn khổ những tự sự của người ghi nhật ký, không còn là cái đau vật chất đời thường:

Tôi ốm ở toàn – tôi fố cây đường đèn lúc mưa lá lẩm hoa trời sao và tín hiệu lạ.

(Sổ thơ 1973)

Nhưng đau đau. Tôi lại đau rồi. Zương thế biết không ?

Nhưng nói để làm gì ? tôi chỉ biết đau thôi ?

(Sổ bụi 1982)

Tôi đau ở…

mỗi người là một vụ án ?

mỗi người

chôn

sống – một chân mây ?

(Sổ bụi 1988)

Tôi đau ở…

tôi thồ thơ văn tự xứ này lên.

(Sổ bụi 1988)

Rồi có  một lần, ông nói về hạnh phúc, nhưng không có  chữ TÔI, và bản thân hạnh phúc cũng khó khăn thế nào : Thôi đi những hạnh phúc – quần đùi may sẵn! giầy dép – đóng sẵn! Số ? Cỡ ? Hạnh phúc chẳng mua ở công ti-may mặc-sẵn ? những  si lip sách chẳng vừa…cóoc sê jáo khoa ca mà thịt hở…  (Sổ thơ kể kệ 1976) Hoặc những phút hiếm hoi như thế này cũng được kể lại theo cách viết rất riêng của ông :

« Tôi có nghèo đâu, trăng sao lủng liểng. Mây phơi dằng dặc khắp chân trời. Hương hỏa của tôi, kho nào chứa xuể ? Ê hề vũ trụ sao bay. Tôi di lại cho ai giờ ? Tầng tầng mây, lục địa lục địa của cải »

(Sổ bụi 1979)

Nhưng có  khi TÔI trở thành CHO TÔI. Cặp quan hệ « tôi cho ai » và « ai cho tôi » có mặt trong thơ ông từ thời Cổng tỉnh, chẳng bao giờ được trả lời. CHO TÔI thực ra là cái vô lý mà trong đó TÔI không thể hiểu được, là cái không thể mà TÔI khao khát, là những tình thế mà TÔI không thấy lối ra. Nếu như TÔI có mặt thường trực suốt cuộc đời thơ của ông, thì CHO TÔI lại chỉ tập trung ở những thời gian nhất định, có vắng bóng, có hội ngộ:

Sao lại cho tôi quê cháo lú. quên cha quên mẹ. quên ngày hội. quên chạm ngõ. cưới xin. chôn cất. tang chồng không để. để tang xô.

Cho tôi về dưới Tía. cả ngày chong bóng xế. cho tôi về quá Mễ. tào lao giấc trắng phèo phèo.

Sao lại cho tôi nhiều xương sống thế ? trước quyền không biết lom khom ?

(Sổ bụi 1979)

Ai xuất tiền mặt cho tôi ?

(Sổ bụi 1982)

Cho tôi ngồi fố khói ? ga khói của lòng? bướm khói liệng sân ga ?

(Sổ bụi 1989)

Chữ  TÔI kiểm điểm bản thân cùng một thời đại buồn rầu của Cổng tỉnh năm 1960 đến những sổ bụi không còn xếp cùng với thời đại của ông nữa. TÔI những năm tám mươi từ chối bên ngoài :

Nhân loại- tôi không chơi với các anh nữa

Ván nào anh cũng ăn jan…

(Sổ bụi 1982)

Biết bao nhóm chữ TÔI KHÔNG này được sử dụng để TÔI được quay về với TÔI. Nếu quan hệ TÔI và TÔI còn nhiều hoài nghi trong Cổng tỉnh khi ông viết tôi có tôi làm gì, thì tới những sổ bụi cuối quan hệ này lại có vẻ êm đềm hơn :

Tôi rủ tôi đi vào cửa khó

dễ ăn, dễ ngủ

siêu lạm phát

động vật dễ dàng…

(Sổ bụi 1987)

Tôi bước lặng bên tôi

không một hai- mà vẫn bước đều

cho đến lúc- say nâu

Tôi rẽ vào fố lặng.

(Sổ bụi 1988)

Người đọc cũng có thể hiểu được rằng con đường từ TÔI đến TÔI đâu phải chỉ khép lại trong cô đơn, mà là kết quả của rất nhiều năm lao động: Từ tôi tới mình? vạn lí trường chinh..? mấy ai đi hết lữ trình? nửa đường rơi rụng sinh linh? (Sổ bụi 1987). Người đọc cũng có thể được lý giải vì sao chữ TÔI của thơ mini 1988 vừa khoẻ mạnh, vừa đau đớn, lại vừa kiêu hãnh, đến ấm lòng:

Tôi khóc những chân trời không có người bay

Lại khóc những người bay không có chân trời

Có thể  đây là một trong những lý do vì sao những bài thơ ngắn và cực ngắn , bắt đầu từ  các sổ thơ 1973 đôi khi chỉ được đánh số thứ tự, phần nhiều chỉ được gọi là những bài « thơ lẻ », phải đợi đến năm 1988 những bài thơ ngắn mới được gọi là « thơ mini ».

2. THƠ  và KHÁCH THƠ

Khi đọc bố tôi viết tác phẩm là bản gốc, đời là bản sao (Sổ bụi 1988) tôi đã cho rằng hai mươi ba năm sống cạnh ông tôi mới chỉ học thuộc bản sao của ông. Bản sao này cũng không trọn vẹn. Tôi không được ở cùng bố tôi tám năm cuối của ông. Sau khi ông mất, bản sao này dần dần được thay thế bằng một cái gì khác, một cái gì mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn không dám khẳng định có phải là THƠ của ông, là di cảo của ông. Tôi vẫn muốn làm sao giữ lại được bản sao ấy, dù chỉ là bản sao, dù nó không hoàn thiện.

Nhưng nếu cuộc đời ông đã được ông đem tặng cho THƠ? Nhưng nếu cuộc đời ông chính là một tác phẩm không được viết?

Tuy nhiên tôi không muốn băn khoăn tìm hiểu vì lý do gì  cuộc sống gia đình và những thăng trầm của xã hội không được tham gia trực tiếp vào nhật ký của ông từ 1973. Ông còn có một mối nợ khác vô cùng riêng tư, mối nợ vẫn đi theo ông từ Bài thơ Việt Bắc, từ Nhất định thắng, từ Cổng tỉnh:

Tôi như có lời hứa chưa xong. Có lời nguyền chưa trọn. Có câu thề còn trăn trở nơi tim- thơ là trò rồ của những kẻ như tôi.

(Sổ thơ 1976)

Thơ là thuốc chữa cho ta, bệnh sống.

Chẳng bệnh gì đâu, chỉ mỗi bệnh sống. Không thơ, lấy jì chữa chạy júp dùm ta ?

(Sổ thơ 1975)

Thơ với tôi như tôn giáo không nhà thờ, không giáo chủ, chẳng tăng sư. Tôi vẫn chốt ở đền Bay-on chữ. Thơ là mạng sống, là lý lịch thật đời tôi.

(Sổ bụi 1988)

Mối nợ  của ông là THƠ. Mặc dù TÔI của sổ thơ sổ bụi đã được ông đem tặng hết cho THƠ vẫn có những lúc ngắn ngủi THƠ tách ra khỏi TÔI cũng giống như tạm xếp lại những tình bạn tuy thắm thiết nhưng lại ít dễ chịu của họ,. Những lúc ấy ông hiểu rằng: Thơ vì thơ, tuyệt đối. Hễ vì bất cứ gì khác, dù cao quý mấy, thơ sẽ chẳng còn là thơ. Vì vậy, thơ khôn thể vì chim gái chẳng hạn. Những thơ tình, thơ chính trị, bất kì tính từ nào, đều vô nghĩa, với tôi. (Sổ bụi 1988). Và THƠ không có TÔI lập tức vứt bỏ mọi ràng buộc và giới hạn, của ngôn từ và kích cỡ, được nhà thơ chiêm ngưỡng từ xa, vô cùng say sưa :

Thơ là cái thăm thẳm.

(Sổ bụi 1988)

Có một vùng thơ tên gọi không lời.

(Sổ bụi 1988)

Vùng mù…vùng tổ của vùng thơ.

(Sổ bụi 1984)

Tuy nhiên, việc phi thường chờ người phi thường, có nhà thơ mới có thơ (Sổ bụi 1984), nhà thơ được ông gọi là người thơ, thi sĩ… và khách thơ. KHÁCH THƠ mang nhiều trùng lập với con người Trần Dần, cả hai cùng bị lạc tới quả đất, và ông quan sát KHÁCH THƠ với nhiều thương xót. Bản thân ông là người chôn rau ở tận trời sao, bản thân ông còn xa lạ quá quả đất, để có thể cảm thông với vị khách lạc, để nói nhưng không rõ với ai:

Khách thơ chẳng thích gì quả đất. Anh lạc hành tinh rồi ! Tội nghiệp !

(Sổ thơ 1975)

Trong cùng một sổ thơ, ông gặp những con đường cũng biết ước mơ, gặp một sân ga im lặng trắng, gặp những vì sao biết là áy náy hộ vì ai, gặp khách thơ nhưng không bao giờ, và bao giờ, khách thơ có chỗ, ở trong huyên náo địa dư-người. Ông trách : Trăng Á mặt trời Âu đều chẳng chiếu. Vào chỗ nào là chỗ khách thơ đau. Trong những sổ thơ và sổ bụi sau này không thấy KHÁCH THƠ quay trở lại quả đất nữa. KHÁCH THƠ giống như một cuộc viếng thăm không lời, đến từ một vùng thơ không lời,  và vội vàng khép lại.

Chỉ  có Trần Dần, và nhà thơ, và người thơ… vẫn còn đấy. Hình ảnh KHÁCH THƠ tội nghiệp  được thay thế bằng những nhà thơ ở lại trần thế, mạnh mẽ hơn, những nhà thơ bao giờ cũng mơ trên sức người, ngoài khả năng người, vượt điều kiện người (Sổ bụi 1984). Bốn năm sau khi gặp KHÁCH THƠ ông viết :

Thi sĩ là gì ? người chết hai buông tay vẫn ằm ặp đầy sao.

Và một năm sau nữa :

Tắt thở… tay ăm ắp đầy sao ? người ấy không chết.

Đến thời gian làm thơ mini 1988 nhà thơ của ông có lúc không còn mang bóng dáng của người khách thơ im lặng và thi sĩ đầy khát vọng, mà gai góc khó chịu:  Mỗi nhà thơ mang một địa ngục. không ai người chung sống nổi với nhà thơ . Nhưng nhiều khi nhà thơ ấy lại đời thường biết bao, và ngay cái đời thường lại nghịch lý đến tầm thường. Tôi không thể mỉm cười được trước những bông hoa không được rắc nước hoa, bởi bài thơ chính là quan niệm của ông về THƠ và NHÀ THƠ:

người thơ

không rắc nước hoa

lên những bông hoa mình trồng.

Còn con người Trần Dần, nhân vật TÔI, có thể thu xếp cho ông một cuộc sống hoà thuận với nhà thơ ở trong ông ? Cả hai thực ra cùng chia sẻ một số phận, cùng sống ngoài rìa xã hội, cùng không chấp nhận và không được chấp nhận, bởi cả bản thân và xã hội. Cả hai cùng chung một sứ mệnh THƠ, làm sao để xây một tập thơ là phá một nhà tù (Sổ thơ 1974). Và phải chăng tất cả họ, nhà thơ, người thơ, thi sĩ, khách thơ, và nhân vật tôi đều mang một cái tên Trần Dần ? Đều là Trần Dần ở những giây phút khác nhau, hy vọng hoặc thất vọng, yếu đuối hay lạc quan, dù chỉ là lạc quan đen ? Bi kịch lớn bắt đầu khi con người TÔI của ông một lúc nào đó cũng đã hoá thân thành nhà thơ ?

3. CHỮ  và NGHĨA. BÊN NÀY và  BÊN KIA

Không phải ngẫu nhiên mà thói quen người đời trong khẩu ngữ  đặt CHỮ lên trước NGHĨA, BÊN NÀY rồi mới đến BÊN KIA. Khái niệm về khoảng cách địa lý không gây nhiều tranh cãi, vì sự hợp lý ở đây hoàn toàn có thể cụ thể hoá được. Lẽ đương nhiên là gần rồi mới đến xa. Thứ tự này là bất biến, không thể phủ nhận. Nhưng khi bước vào lĩnh vực nghệ thuật thói quen định vị của CHỮ và NGHĨA lại thường xuyên bị nhầm lẫn, thứ tự của chúng luôn bị xáo trộn, ở mọi thời, mọi nền văn hoá. Công chúng khi đứng trước một tác phẩm hội hoạ thường đòi hiểu ngay lập tức cái này muốn nói gì, khi nghe một bài hát thường phàn nàn không nghe được hết lời, khi đọc văn học thường chỉ đọc NGHĨA mà quên CHỮ, hoặc khá hơn một chút thì đặt NGHĨA lên trước CHỮ.

Ngay trong hàng ngũ những người làm nghệ thuật và phê  bình nghệ thuật quan hệ CHỮ và NGHĨA này cũng quay tròn như chong chóng gặp gió, gió chiều nào quay chiều ấy. Chưa kể đến những thoả hiệp giữa họ và công chúng. Thử mở những bài giới thiệu bình luận tác phẩm, NGHĨA bao giờ cũng được phóng to nhiều lần, dễ giải thích hơn, và cũng dễ hiểu hơn.

Thói xấu này trở nên quá phổ biến, đến mức đối với phần đông đọc NGHĨA không có CHỮ là một tập quán, tệ hơn nữa là một nguyên tắc bất di bất dịch. Đến mức chỉ cần đề nghị thiết lập lại vị trí của CHỮ và NGHĨA theo đúng như trong thói quen nói, không hề là một phát hiện thông minh nào, đã sánh ngang được một cuộc cách tân lớn.

Khi Trần Dần viết : « Đố ai chọc mắt các vì sao» (Sổ thơ 1976), một người khác cũng có thể viết : « Tôi đố anh nào có đủ dũng cảm có đủ khả năng đủ tài năng đủ phương tiện để trèo lên được tận các vì sao để tắt chúng đi đấy ! ». Câu thứ hai đủ ý đủ nghĩa, rõ ràng mạch lạc, nhưng lại đóng cửa mọi tưởng tượng, và mất hết mọi sức mạnh.

Khi ông viết : « Họ cứ vu oan mặt trời ngủ » (Sổ thơ 1976), tôi không thể hình dung được ai đấy có thể viết nổi câu văn thứ hai có thể mang cùng một nghĩa. Câu thơ quá đơn sơ, CHỮ nào cũng dễ hiểu, mà toàn bộ câu thơ lại mở ra rất nhiều NGHĨA, rất nhiều liên tưởng, hình ảnh, âm thanh. Câu thơ có vẻ dễ làm, nhưng không thể thêm hoặc bớt CHỮ của nó, không thể thay đổi chỗ của chúng. Và trên hết, câu thơ là một kinh ngạc. Một kinh ngạc lại chứa nhiều kinh ngạc khác. Từ họ đến mặt trời, từ mặt trời đến mặt trời ngủ, từ vu oan mặt trờiđến vu oan mặt trời ngủ…và mặt trời ngủ rõ ràng là một hình ảnh thị giác. Tôi cứ hình dung thấy một mặt trời vàng vô cùng oai vệ nằm ngủ như một con người, thế thôi, chẳng mộng mị, chẳng lo lắng. Nhưng tôi đã bị lừa, hình ảnh của tôi chỉ là ảo ảnh, vì biết đâu mặt trời lại không ngủ, ông bị vu oan.

Người nhiều tưởng tượng hơn có thể đi từ câu thơ  đến những thân phận người, những số phận oan nghiệt. Người nhiều khả năng tổng hợp hơn có thể nghĩ đến những đám đông lười suy nghĩ, vẫn lười suy nghĩ. Nhưng họ không biết rằng chính những con CHỮ này đã cho họ ham muốn được tiếp tục giải nghĩa những gì còn giấu đằng sau câu thơ. « Biển giấu sâu. Trời giấu rộng. Chữ giấu nghĩa » (Sổ thơ 1976) là như vậy.

Nhưng tôi không có ý định giữ CHỮ của sổ  bụi ở lại BÊN NÀY, để NGHĨA của thơ được gửi sang BÊN KIA mặc dù có lúc ông viết : đừng viết cái gì không rơm rớm bên kia , mặc dù  bên kia ? ai rồi cũng đến – bên này ? ai rồi cũng qua (Sổ bụi 1983). Tôi không đề nghị độc giả đi tìm biên giới của CHỮ và NGHĨA như có thể lấy phấn trắng mà phân chia địa phận của BÊN NÀY với BÊN KIA.

Thực ra BÊN NÀY và BÊN KIA của những sổ nhật ký không được Trần Dần sử dụng cho không gian hoặc địa lý. Nhưng tôi xin được đặt chúng song song với cõi sống và cõi chết.

Khi viết về sự sống và sự chết ông đặt chúng vào một quan hệ, như gửi với về, như dụng và thể, như tử số và mẫu số. BÊN NÀY và BÊN KIA được nhà thơ thường xuyên đến thăm. Nhưng với hai thái độ :

Đối với BÊN NÀY :

Sống ? Eo ôi sống ?

Xưa nay. Từ sống mấy ai về?

(Sổ bụi 1988)

Còn với BÊN KIA:

Càng chết tôi càng – bất tử

Eo ôi

Chết vẫn không yên.

(Sổ bụi 1988)

Cả hai bài thơ mini đều dùng chữ Eo ôi, nhưng nếu Eo ôi đầu, mắc kẹt giữa hai chữ sống, có vẻ đi nhanh hơn thì Eo ôi sau, rơi vào trong khoảng trống, lại kéo dài hơn. Chữ thứ nhất vừa đi kèm chữsống, vừa từ chối chữ sống. Chữ thứ hai không dành cho chết, mà cho chữ bất tử. Cả hai bài đều được viết để từ xoá từ, câu bác câu, lưỡng nghĩa đè lưỡng nghĩa. “Sống mấy ai về” là cả một vô lý và ngược đời. Người ta hay nói: Từ chết mấy ai về, cũng hay an ủi: Chết là yên thân. Người đời cũng mấy ai không thích bất tử? Còn nhà thơ, ông kinh tởm sự sống lẫn sự bất tử, chứ không hề sợ cái chết. Hai bài thơ quá ngắn nhưng chứa rất nhiều suy nghĩ và ôm trọn cả cuộc đời của ông, và nhà thơ ở trong ông. Những con CHỮ của Trần Dần như vậy phải là những từ cô đọng đến tối đa, nhưng đồng thời phải đem về cái ngạc nhiên, cái nghịch lý, cái phủ nhận, phủ nhận ngay cả những gì ông vừa mới viết, chứ không thể là những mỹ từ. CHỮ nào vào tay ông đều trở thành THƠ. Ông chủ trương con CHỮ tự nó làm NGHĨA. Nhiều người, kể cả bạn bè ông, sau này luôn nói về CON CHỮ, nhưng phần đông lại đưa ra những so sánh lạc đề, đại loại như: những con chữ lấp lánh trong tay ông, những con chữ giống như đàn gà con chiêm chiếp gọi mẹ, theo tôi là xuyên tạc Trần Dần.

Lại vẫn  để nói về BÊN NÀY và BÊN KIA, nhưng bắt  đầu từ chữ bằng lòng. Đây là bài thơ ngắn được lấp đầy bởi năm lần bằng lòng:

bằng lòng sống – bằng lòng quả đất? bằng lòng làm chiếc lá – heo may.

bằng lòng chết? không bằng lòng hết. Ôi chiếc lá vàng trong bát ngát càn khôn.

(Sổ bụi 1987)

Năm lần không lần nào giống lần nào, nhờ vào năm vị  trí khác nhau. Sự sống được giải nghĩa là quả đấtquả đất trở về chiếc lá trong gió đông. Chữ bằng lòng do vậy cứ nhỏ dần lại, nhưng thêm cụ thể hơn. Giống như ba chiếc hộp lồng nhau nhưng chữ bằng lòng thứ ba lại tiêu diệt những hoài bão lớn ban đầu. Sự sống nhỏ lại thành chiếc lá heo may.

Chữ  bằng lòng thứ tư là một nghi vấn. Chữ thứ năm bị phủ nhận. Rồi quá bất ngờ, ngay sau chữ hết, không gian được mở rộng đến nao lòng. Chiếc lá mùa đông được mang mầu vàng, được đặt trong cõi vô cùng, được nhà thơ chiêm ngưỡng đến độ phải bật thốt lên thán phục. Chiếc lá của BÊN NÀY và BÊN KIA mới khác nhau làm sao! Và cõi bát ngát càn khôn có lẽ chính là vùng thơ thăm thẳm ngày nào?

Cho nên BÊN NÀY và BÊN KIA không chỉ đơn thuần như tôi muốn giải nghĩa là hai thế giới sống và chết, mà chính là hai vùng thơ, một vùng đầy nguy hiểm, một vùng làm ông thương nhớ khôn nguôi. Tôi chỉ mong sao có được tấm hộ chiếu đưa tôi vào vùng thơ của nhà thơ. Để không còn bỡ ngỡ day dứt khi đọc trong sổ bụi của ông: Sống tới hôm nay, bỗng nhớ quê. Sực nhớ. Day dứt nhớ bên kia. Nơi chẳng đồng hồ không số lượng. Để không còn băn khoăn với câu hỏi của ông: Bất tử làm gì? nếu phải mãi mãi sống đìu hiu. Để có thể yên tâm được như ông: Hãy đắm đuối đi vào bóng tối.

4. Sổ  bụi CUỐI

Tôi đã không tự hỏi, khi lục tìm di cảo, đâu là những dòng viết cuối của bố tôi? Tôi đã bắt đầu bằng những tác phẩm nằm, là những trường ca, những tập thơ đã hoàn chỉnh, những tiểu thuyết, tranh vẽ và thơ vẽ không có lời mà ông gọi là Thơ cơ bản, rồi những tập thơ có lời mà ông lại gọi là Thơ không lời. Bốn năm sau khi ông mất, tôi mới đọc những sổ thơ và sổ bụi. Tôi nghĩ đã thu xếp cho mình đủ bình tĩnh để đọc nhật ký của người khác. Tôi đã đọc ba mươi tư sổ tay, không theo trình tự, không hiểu hết, không nhớ hết, và không biết tôi đã đọc những dòng viết cuối của ông từ lúc nào.

Tôi đã không thể tưởng tượng được nhật ký của  đời ông chấm hết vào đúng quãng thời gian tôi rời xa Hà Nội, cuối năm 1989. Tôi không muốn nghĩ rằng cuộc ra đi khốn đốn và nhục nhã của tôi  đã làm kiệt sức toàn bộ căn nhà năm người của chúng tôi, đã khiến bố tôi phải tự xếp cánh lại, không muốn bay nữa. Tôi không có đủ thiên hướng văn học để có thể gạn hỏi quá khứ, hoặc không đủ cô đơn để lùi ra xa khỏi cuộc đời bố tôi như Paul Auster đã bỏ trốn vào “L’invention de la solitude”.

Tôi đã không tìm được những trang viết sau 1989.

Năm 1987, cùng với thời đổi mới phát động bởi tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, với những hứa hẹn của hội nhà văn, với sự phục hồi hội tịch cho những nhà văn bị bỏ ra khỏi làng văn chính thống ba mươi năm trước, ông vào Huế và Sài Gòn. Những sổ bụi 1987, 1988 này tràn đầy thơ mini và chỉ dẫn thơ, với muôn vàn chân trời, chân mây. Nhưng rất nhanh, ông đã hiểu không có đổi mới nào cả. Và Sài Gòn mà ông đã xa cách từ năm mươi năm, giờ mới gặp lại, không đủ cho ông. Sau tất cả những sự kiện này ông trở về Hà Nội. Đây là quãng thời gian ông viết: bốn cẳng chạy tới chân trời? không bõ? không bõ? vớt về một canh cánh chiêm bao.

Năm 1989 bắt  đầu, và thật kỳ lạ, đây là trang sổ  bụi duy nhất có ghi ngày tháng, nằm lẫn vào trong những trang cuối của sổ bụi 1988:

“Ngày 23 tháng 1 năm 89, tức ngày mùng 10 Chạp Thìn.

Dương đã 89. Âm vẫn chửa sang trang Kỷ Tị. thời gian châu  Á vẫn tiêu sâm…

Tôi chẳng muốn mang sang gì cả. Nỗi buồn ga cuối còn nguyên”.

Sổ 1988 hết trang, ông sang sổ mới. Đây mới là cuốn nhật ký cuối cùng của ông, sổ bụi 1989. Ông bắt đầu như thế này:

Canh bạc giao thừa – thua cũng được?

đời

đau – thi

cách rõ ràng…

Rồi có  những bài thơ mini:

Tia mắt chiêm bao ngạt ngào quanh thế. Người về bang cũ có buồn không?

Cố nhân bang mới buồn như khói? Tấm lòng ga cuối lặng như đêm.

ngã ba đen? ngã ba đen?

sự vật không đèn?

ai khóc?

ngã ba tim?

Và rất nhiều chữ CUỐI, chưa bao giờ cùng tụ tập lại như thế này:

    • hoa soi? hoa sói. hoa sòi. hoa khói ? ga cuối của lòng.
    • tim cuối? hai bàn chân cuối?
    • “Đây rồi phố cuối – khóc đi thôi”
    • tuổi cuối?
    • hai bàn chân cuối vẫn ra đi
    • xá gì  khi khói – cuối đã bay đi?
    • mây cuối của lòng?
    • con mắt cuối vẫn chong chong?
    • tuổi cuối?
    • ga cuối của lòng
    • nghe hát thương hoa…

Ở một trang khác, là chính ông đứng chống gậy ngoài phố. Ngoài ngã ba phố hay ngã ba tim? Đây chính là hình ảnh ông mà ai đã biết ông đều nhận ra. Đây cũng chính là một ông già tập tễnh trong mắt người đời, trong con mắt trẻ con, bị trẻ con trêu. Không thể đọc một cách bình thản được:

“ngã ba tim. từ ngã ba tuổi. từ đèn ngã ba? – ông già hoè? ông koè? tôi iêu ông già hoè?

không iêu  ông già koè? – tôi iêu ông jà koè! tôi iêu ông jà hoè!”

Nhưng rồi những day dứt của ông lại nhanh chóng nhường chỗ  cho một mùa thu rất xanh và một cơn mưa mà ông đã gặp từ hồi Nhất định thắng, từ hồi Cổng tỉnh:

“cho tôi ngồi fố khói? ga khói của lòng? bướm khói liệng sân ga? tầu khói. chung nhau màu tuổi khói? đâu dè mắt khói chiêm bao. mây bay? chung đôi ngồi kể khói? mưa rất xưa mà thu rất xanh. mắt khói thế này. mắt khói để cho ai?”

Tôi không cho rằng một mùa thu rất xanh có thể đóng lại toàn bộ những sáng tác của ông. Tôi vẫn biết không bao giờ ông bằng lòng với những gì ông đã làm. Không hiếm khi ông đã tự trách mình: tuổi 60 rồi? không viết nổi một câu thơ? Anh 60 rồi chẳng có quê? Cho dù đối với ông ghi trở nên một hình phạt (1958) ông vẫn tiếp tục viết những bức thư không gửi cho những sổ tay, những đau lòng sổ bụi. Phải lâu lắm tôi mới tìm lại được trong sổ bụi 1988, khi ông nói về thơ mini, những dòng chữ sau: tôi thích viết cái chưa biết, mặc các ông viết cái đã biết. 90 có hoàn thành không? có thành công không để mà đốt đi? Tôi đã đốt tôi đi không phải chỉ đôi lần… cái chưa biết –cái khó -thậm chí cái bất khả thu hút và đắm đuối tôi. Dấu vết nhỏ bé này đã cho phép tôi đặt câu hỏi có phải ông đã tự chuẩn bị cho mình ngày đóng cửa bốn mươi sáu năm ghi nhật ký từ một năm trước? Có phải những năm sau 89, ông đã không còn muốn nhẩy qua bóng của mình? Có phải ông đã có linh cảm không lành về cái mới, về bệnh tật sẽ cướp đi trí nhớ và sự minh mẫn của ông năm năm cuối  đời ? Có phải ông đã huỷ toàn bộ phần sau của sổ bụi để tay không mà đi sang BÊN KIA. Như ông vẫn nói: Tôi chẳng muốn mang sang gì cả. Nỗi buồn ga cuối còn nguyên.

Paris tháng 4 năm 2003

About these ads

Written by thichhoctoan

13/09/2012 at 11:15

Posted in Bạn bè viết

8 phản hồi

Subscribe to comments with RSS.

  1. Trong một không gian tối mịt đây là biểu tượng khát vong sống, nay có lẽ khác rùi !

    Mt

    14/09/2012 at 08:52

  2. oi VN que huong toi…nan qua!

    nguoi VN

    17/09/2012 at 22:41

  3. Chắc còn phải đọc nhiều lần nữa, trải nghiệm nhiều nữa. Vừa muốn, vừa không muốn, vừa sợ. Chưa bao giờ bắt gặp những câu thơ như thế. Sự phân tích, dẫn giải giúp người đọc đến gần hơn với tinh thần của thơ, của nhà thơ, những đôi khi tôi muốn một mình với những câu thơ.

    thanh

    20/09/2012 at 01:09

  4. Hay

    Lai Xuan Tinh

    31/10/2012 at 09:16

  5. Tôn Trung Sơn cho rằng nếu ông hành nghề y ông chỉ giúp được một số bệnh nhân, ông chuyển sang chính trị ông đã giúp được cả dân tộc Trung Hoa. Tôi rất ngưỡng mộ GS Ngô Bảo Châu, cũng như phần lớn người dân Việt Nam hiện nay thấy rằng rất cần người dẫn dắt dân tộc này, phải chăng đó chính là GS Ngô Bảo Châu???

    Trần Xuân Lương

    31/10/2012 at 09:28

    • Thế mà rồi, sự nghiệp của ông Tôn Trung Sơn cũng lại thành bất thành!

      Nhiều khi nửa đêm tỉnh dậy, để khỏi biết làm gì.

      hmhoang

      10/11/2012 at 20:57

  6. “Đau lòng sổ bụi”, Cụ Hinh cứ băn khoăn mãi, chẳng hay đây cũng là “Sổ tay Thích Học Toán”?

    hmhoang

    22/11/2012 at 19:05


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 781 other followers

%d bloggers like this: