Thích Học Toán

Đầu tư vào đào tạo trên đại học

Cách đây gần chục năm, ông Nguyễn Thiện Nhân đưa ra mục tiêu 20K tiến sĩ cho năm 2020. Nhiều người cười ông Nhân về mục tiêu viển vông. Tôi không có số liệu chính xác trong tay nhưng tôi tin rằng nếu có thống kê đầy đủ thì con số này đã đạt được rồi.

Nhiều người phán một cách khá vội vàng rằng tiến sĩ đào tạo gần đây toàn là tiến sĩ giấy. Đúng là chất lượng đào tạo tiến sĩ trong nước còn rất thấp, nhiều cơ sở đào tạo theo nhu cầu chuẩn hoá bằng cấp, coi nhẹ mọi chuẩn mực hàn lâm. Một mặt khác, tôi nghĩ rằng đa số trong số khá đông tiến sĩ đào tạo ở các nước phương tây trong những năm gần đây có trình độ khoa học tốt, ít nhất không kém hơn những người được đào tạo ở Liên xô, hay các nước xã hội chủ nghĩa trong những thập kỷ trước. Tôi đã tiếp xúc, và nghiên cứu hồ sơ một số không nhỏ trong số xấp xỉ một trăm tiến sĩ toán xuất thân từ chương trình thạc sĩ quốc tế liên kết giữa Viện toán học, Sư phạm Hà nội và một số trường đại học ở Pháp và Đức, chương trình này bắt đầu từ 2005. Tuyệt đại đa số họ đều có những công trình khoa học nghiêm túc, được công bố ở những tạp chí đàng hoàng. Tôi tin rằng ở các tình hình ở các ngành khoa học khác cũng vậy, tuy rằng cần có một thống kê đầy đủ và chính xác hơn.

Như vậy các chương trình 322, 911 … dùng tiền ngân sách đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài có hiệu quả không. Tôi tin là có.

Giảng viên ở các trường đại học có cần có bằng tiến sĩ hay không. Tôi tin là có, vì đó là chuẩn mực quốc tế. Nếu chẻ chữ University ra thì ta thấy nó xuất phát từ chữ Universal. Làm University theo kiểu đặc thù là cách tự mâu thuẫn ngay trong phát biểu.

Nhưng nếu câu hỏi đặt ra là có nên tiếp tục sử dụng ngân sách để đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài hay không, thì tôi tin là không. Ít nhất không phải ở quy mô như đang nghe nói.

Điều bất hợp lý lớn nhất là nhà nước có thể bỏ ra 2K USD / tháng cho một người đi học tiến sĩ ở nước ngoài, nhưng khi họ đã tốt nghiệp và đi dạy ở đại học VN thì mức lương khởi điểm của họ sẽ nhỏ hơn 150 USD/tháng. Nếu thu nhập khởi điểm của giáo viên đại học đạt ở mức tương đương, hoặc chỉ bằng 70% thu nhập ở các ngành khác trong xã hội với yêu cầu trình độ tương đương, thì có lẽ không cần nhà nước phải hỗ trợ, các bạn trẻ sẽ tự tìm cách mà đi làm tiến sĩ ở nước ngoài.

Vấn đề là đại học lấy đâu ra tiền để trả lương xứng đáng cho giảng viên. Hiển nhiên là các trường có định hướng ở phân khúc cao phải tính đủ học phí, có nghĩa là tăng học phí so với hiện nay. Các trường ở phân khúc thấp vẫn có thể duy trì mức độ học phí thấp và trả lương thấp cho giảng viên của mình.

Vậy thì vai trò của nhà nước nàm ở đâu? Vai trò của nhà nước là hỗ trợ cho các em sinh viên có điều kiện kinh tế khó khăn, nhưng đủ trình độ học ở các trường ở phân khúc cao, vẫn có thể đi học ở đó với chính sách học bổng hợp lý. Thay vì việc cấp kinh phí trực tiếp cho các trường đại học như hiện nay theo đầu sinh viên, bất kể sinh viên nhà nghèo hay nhà giàu.

Quay lại câu chuyện dùng ngân sách để gửi 9K sinh viên đi làm tiến sĩ ở nước ngoài. Tôi tin rằng ngân sách này sẽ được sử dụng hiệu quả hơn vào hai việc như sau:

1) làm startup grant để các trường đại học có thể tuyển những người đã có bằng tiến sĩ và có thành tích nghiên cứu khoa học xuất sắc;

2) đào tạo tiến sĩ trong nước với chất lượng tốt, theo chuẩn mực quốc tế. Việc này có thể làm được nếu có funding thông qua các application call minh bạch, dựa trên các tiêu chí khoa học, để thành lập các chương trình đào tạo tiến sĩ trong nước có chất lượng.

Đa số các nước tôi biết đầu tư ngân sách để đào tạo nghiên cứu sinh ở nước mình, chứ không phải gửi đi học ở các nước khác.

Một điểm nữa cần lưu ý, việc tìm được học bổng nước ngoài đi làm nghiên cứu sinh không phải là chuyện dễ, nhưng cũng không khó như người ta tưởng. Tất nhiên bạn phải vượt qua một số kỳ thi sát hạch, tối thiểu và có thư giới thiệu của thầy giáo để đảm bảo khả năng tư duy và thái độ làm việc. Nếu không vượt qua các kỳ thi sát hạch tối thiểu, tôi nghĩ bạn cũng không nên mơ mộng đi làm tiến sĩ làm gì. Phần còn lại do các hội đồng khoa lựa chọn, có thể năm ăn năm thua. Nhưng thế giới thì rộng, cơ hội thì nhiều nếu bạn chịu khó đi tìm.

Advertisements

Written by thichhoctoan

21/11/2017 at 16:40

Posted in Uncategorized

Les nombres et les formes

Dans le seul papier qu’il a écrit sur la théorie des nombres “Sur les nombre premiers plus petits qu’une magnitude donnée”, Riemann a imprimé sa marque sur le développement de ce domaine pour des siècles qui suivent. Les nombres premiers dont l’apparition dans l’énumération des nombres naturels paraît si sporadique, suivent une loi de nature statistique plus simple qu’on pouvait s’y attendre. Riemann a montré que cette loi, le théorème des nombres premiers, est dictée par l’emplacement des zéros d’une seule fonction analytique, la fonction zeta. Il a aussi formulé son célèbre hypothèse sur l’emplacement de ces zéros qui reste encore un grand un grand mystère à ce jour. Le théorème des nombres premiers a été démontré plus tard par Hadamard et de la Vallée-Poussin lesquels s’appuient sur une forme faible de l’hypothèse de Riemann. Avant d’énoncer son hypothèse, Riemann a étudié les propriétés analytiques de sa fonction zeta qui incluent une équation fonctionnelle, une symétrie étonnante qui ne cesse de nous hypnotiser jusqu’à ce jour.

Dans sa dissertation inaugurale “Sur les hypothèses qui fondent la géométrie”, Riemann a apporté des idées qui ont profondément bouleversé ce qu’on entend même par géométrie avec des répercussions jusqu’à la théorie de la gravitation. Après Riemann, un nouvel accent est mis sur les formes d’objets géométrique, souvent de grande dimension, au détriment des propriétés particulières d’un tel triangle et des telles sections coniques.

Riemann lui-même n’a peut-être pas soupçonné l’existence de liens entre ses deux mémoires. Ces liens ont été découverts de fil en aiguille cours du vingtième siècle et souvent portaient des germes des développement de grande ampleur.

André Weil a mis en évidence l’analogie formelle entre la structure des nombres rationnels et celle des fonctions méromorphes sur une surface de Riemann par le biais des fonctions rationnelles sur une courbe définie sur un corps fini. Il a formulé l’analogie de l’hypothèse de Riemann pour les dernières et l’a démontrée par les outils de la géométrie algébrique. Avec audace, il a conjecturé que la forme de l’hypothèse de Riemann qu’il a démontrée ne devrait pas être limitée aux courbes, objets géométriques de dimension un mais devrait être valide en n’importe quelle dimension. Il a prophétisé l’existence des théorie homologique pour des variétés algébriques définies sur des corps finis dont on peut tirer l’analogue de l’hypothèse de Riemann des axiomes.

La première théorie homologique pour les espaces topologiques a été inventée par Henri Poincaré au début du vingtième siècle. Il s’agit de définir des invariants qu’on pourrait attacher aux espaces généraux dont le premier est certainement le genre des surfaces que Riemann a mis en évidence dans sa dissertation. L’intuition de Weil que ces invariants topologiques du monde des formes devrait se propager aux variétés algébriques sur les corps finis qui appartiennent a priori au monde des nombres est aussi audacieuse que féconde. Le développement extraordinaire de la géométrie algébrique du milieu du vingtième siècle sous l’égide de Grothendieck a été fortement motivé par la construction des théories homologique de Weil. Ces développements ont été couronnés par la démonstration de l’hypothèse de Riemann pour les variétés algébriques définies sur les corps finis par Deligne au début des années 70.

Un peu avant la preuve des conjectures de Weil par Deligne, Langlands a formulé un ensemble de conjectures dont l’audace rivale et peut-être dépasse celles de Weil. Il a mis en évidence toute une famille de fonctions analytiques, des fonctions L lesquelles seraient attachées au formes automorphes aussi découvertes par Poincaré. Les fonctions L automorphes sont définies par une procédure qui rappelle celle qui donne naissance à la fonction zeta de Riemann et forment la famille naturelle dont la fonction zeta est un membre. Langlands a conjecturé que ses fonctions L ont un prolongement analytique et satisfont une équation fonctionnelle similaire à celle de la fonction zeta. Il a relié cette conjecture aux structures régissant les représentations linéaires des groupes de Lie. Il a aussi conjecturé que les fonctions L automorphes portent en elles le plus clair des informations numériques des cohomologies de Weil des variétés algébriques définies sur nombres rationnels.

Les conjectures de Langlands ont transformé profondément la recherche en théorie des nombres. En particulier, elles ont rendu possible l’avancée spectaculaire de Wiles dans les année 90 sur la conjecture de Tanyiama-Weil sur les courbes elliptiques, aboutissant à la première démonstration du dernier théorème de Fermat. Des années 90 ont aussi été témoins de la naissance d’une toute nouvelle branche des mathématiques, la théorie de Langlands géométrique initiée par Drinfeld et Gérard Laumon. Il s’agit de nouveau un lien fécond entre le monde concret des nombres et le monde abstrait des formes géométriques.

Mes propres travaux, se situant dans la continuité de ceux de Drinfeld et Laumon, portent sur ce que Langlands a appelé le lemme fondamental, un nom qui sous-entend quelque chose de nature un peu technique. Il s’agit des égalités entre centaines intégrales orbitales qui apparaissent dans l’analyse harmonique sur les groupes de Lie. L’étendue des difficultés s’avérait plus grande que ce à quoi on pouvait s’attendre de première vue car les nombres qui mesurent ces intégrales orbitales sont encore à ce jour incalculables. La résolution du lemme fondamental s’appuie sur l’idée que l’égalité entre ces nombres mystérieux devrait résulter de la comparaison entre certaines formes géométriques. En particulier, des objets géométriques reliés à la mécanique classique, en l’occurrence aux mouvements des toupies, qu’on appelle des systèmes complètement intégrables de Hitchin, ont été capables d’expliquer le lemme fondamental de Langlands.

Il me semble que depuis l’antiquité jusqu’à nos jours, le mathématicien est toujours à la recherche d’un lien tant tôt solide et éclatant, tant tôt ténu et mystérieux entre le monde des nombres et celui des formes. Ces deux mondes ne cessent de s’éclairer et nous éclairent par la même occasion.

En rappelant des noms illustres don’t beraucoup a fait partie de cette assemblée, je mesure toute l’honneur que vous m’avez faite en m’admettant en son sein.

Je vous remercie pour votre attention.

Written by thichhoctoan

26/06/2017 at 14:08

Posted in Toán

Mèo của Nguyễn Sáng

meo

Tôi mang bức tranh Mèo của Nguyễn Sáng về Hà nội lần vừa rồi. Lý do đơn giản là bức tranh này thuộc về Hà nội, các bạn tôi ở HN trân quý nó hơn người ở những nơi khác.

Nguyen Duc Thanh gợi ý đưa bức tranh này vào sách tuyển tập hội hoạ VN đang làm. Nhờ lãnh đạo Viet Thanh Nguyen chụp mới có tấm ảnh đẹp như thế này. Đức Thành cũng đề nghị tôi viết vài dòng về tiểu sử của bức tranh. Câu chuyện về bức tranh Mèo của Nguyễn Sáng là thế này.

GS. Henri Van Regemorter tham gia phong trào phản đối chiến tranh Đông dương từ khi còn là sinh viên. Trong thời kỳ 55-75, ông là một trong những lãnh đạo của Liên đoàn khoa học kỹ thuật chống chiến tranh Mỹ ở Việt Nam. Sau năm 1975, ông sáng lập ra Uỷ ban hợp tác khoa học kỹ thuật Pháp-Việt để kết nối các nhà khoa học VN với các trường đại học, Viện nghiên cứu và các nhà khoa học Pháp. Tôi không biết chính xác Henri có bức tranh này trong hoàn cảnh nào, nhưng hiển nhiên nó là kỷ vật của một cuộc đời gắn bó với đất nước Việt Nam.

Tôi kết bạn với Henri từ năm 1990 khi mới sang Pháp. Henri tặng tôi bức tranh Mèo của Nguyễn Sáng một vài tháng trước khi ông mất vào năm 2002.

Từ nhỏ tôi đã nhận thấy sưu tầm là một công việc rất thiếu triết học. Với thân phận phù du của mình, tại sao ta lại gắn bó quá mức vào các đồ vật, dù nó đẹp nó quý đến đâu. Thực ra chính vì nó đẹp, nó quý nên ta không nên gắn bó với nó.

Tôi bắt đầu sưu tầm ít tranh pháo từ khi có bức Mèo của Nguyễn Sáng. Tôi nhận ra rằng mình giữ bức tranh không phải vì giá trị kim tiền hay nghệ thuật mà vì đó là một vật chứng cho sự tồn tại của một thời đã sống, của một người bạn đã mất.

Written by thichhoctoan

16/05/2017 at 15:48

Posted in Uncategorized

Ông ngoại

Ngày xưa, những ngày gần Tết rét cóng. Các cụ già thi nhau ngỏm. Tuần sau có giỗ cả ông nội và ông ngoại.

Ông nội mất trước khi tôi sinh. Tôi chỉ biết một vài câu chuyện về ông nội qua lời kể của bố, bác Du và chú Văn. Ông cả đời làm ông giáo nghèo. Bố tôi có lần vác bộ cả bao gạo mấy chục cây số từ lên Hà Đông nơi ông dạy học. Cả đời ông chỉ mơ xây được cái “nhà tây”, tức là nhà mái bằng. Xây xong cái nhà tây thì ông mất. Nghĩ đến ông, thấy thương ông, thương bố và các bác.

Vì chưa gặp ông bao giờ nên tôi chỉ lưu trong đầu mình tấm ảnh của ông nội. Tuy thân thương, nhưng có gì đó xa cách và trừu tượng. Ngược lại với ông ngoại. Vì ở với ông ngoại từ bé nên cứ mỗi dịp Tết, nhất là mấy ngày trước giỗ ông, bao ký ức lại cuồn cuộn chảy về.

Hồi còn đi học mẫu giáo, ngày quan trọng nhất trong tuần với tôi là ngày thứ năm. Ngày thứ năm, ông ngoại đi làm về sớm đến đón tôi ở lớp mẫu giáo. Không nhớ dạo đó nghịch ngợm thế nào mà ngày nào tôi cũng bị cô giáo phạt. Riêng ngày thứ năm thì rất ngoan vì ông hứa nếu không bị cô phạt thì ông cho đi ăn kem. Kem ngày xưa ngon lắm. Một lần tuy đã rất kiềm chế, cả ngày không trêu ghẹo bạn nào, nhưng có lẽ vì thế nên căng thẳng quá mà đến chiều thì có vi phạm rất to là đái dầm. Buồn lắm vì như thế bao nhiêu cố gắng kiềm chế không trêu ai, không đánh ai, thành ra công cốc. Đến trường ông hỏi sao trông mặt cháu buồn thế, lại bị phạt à? Trả lời vâng ạ, cháu bị phạt vì tội đái dầm. Ông bảo đái dầm không phải là khuyết điểm vì không ai cố tình đái dầm cả. Nên vẫn được ăn kem. Tự bảo, trên đời chắc không có ai độ lượng như ông ngoại.

Lớn hơn chút, mỗi khi có việc gì quan trọng, tôi lại đòi ông ngoại đi đón. Mỗi lần đi thi biết có ông ngoại đi đón, cảm thấy rất vững tâm để làm bài. Cứ mỗi kỳ thi, mà học chuyên toán thì thi suốt, ông lại đi đón. Ông không bao giờ sai hẹn.

Tết nào ông cũng lôi ở đâu về rất nhiều trấu về nấu bánh chưng. Mấy anh em chạy lăng xăng xung quanh nồi bánh chưng của ông ngoại. Ông bảo chạy xa xa ra không làm đổ nồi bánh chưng của ông. Có lần không kìm được máu nghich ngầm, tôi ném một quả pháo tép vào đống củi lửa dưới nồi. Pháo nổ làm ông giật mình. Ông bực mình lắm, nhưng vì ông không quen mắng mỏ ai bao giờ, ông không tìm ra từ để mắng. Mấy anh em tôi được dịp tiếp tục lăng xăng nhảy nhót. Ông bực lắm mà chỉ biết trừng mắt lên rồi bảo: không được hỗn láo trước mặt cấp trên.

Khi về hưu, ông bà ngoại tôi mở quán xôi chè ở sân nhà Hàng Bài. Xôi chè bà nấu ngon nên đông khách. Ngày nào cũng như ngày nào, ông ngoại dạy từ 4 giờ sáng quét sân, dựng bạt, rồi cả ngày rửa không biết bao nhiêu bát đĩa của khách. Không một lời kêu ca.

Ông ngoại tôi sinh ra trong một gia đình rất giàu có. Trước cách mạng, ông đã có mấy cái xe hơi, thừa hưởng mấy chục căn nhà trên phố Bạch Mai. Có đủ nhà để mở trường cho trẻ em nghèo. Đi kháng chiến 9 năm về, người ta bắt ông đi cải tạo vì thành phần vẫn không tốt. Đi về ông hiến nhà nước toàn bộ nhà cửa ở Bạch Mai và gia đình tôi dọn về Hàng Bài nơi nhà nước cho thuê lại một chỗ ở. Toàn bộ tài sản của ông được xếp ngăn nắp trong một cái tủ nhỏ sơn màu xanh dương. Vậy mà cần gì ông mở tủ ra là có. Có lần tôi tự tiện mở tủ của ông để lấy bút viết, vì tôi hay làm mất bút. Ông bực lắm nhưng cũng chỉ nói, cháu không được tự tiện mở tủ cửa người khác. Rồi ông nói cháu lấy bút rồi, lần sau cháu xin ông đâu còn bút để cho.

Khi ông gần mất, tôi xin nghỉ được một hai tuần để về nhà, đến ngủ với ông ở trong bệnh viện. Lúc ấy ông đã hơi lẫn rồi. Nhưng đôi lúc vẫn còn tỉnh. Một lần như thế tôi hỏi ông có tiếc vì đã đi kháng chiến hay không? Ông bảo không, bọn Pháp chiếm nước mình thì mình phải đánh lại nó. Xong tôi hỏi ông có tiếc 30 căn nhà hiến cho nhà nước hay không. Ông bảo không, nếu không hiến thì mẹ cháu làm sao được đi học đại học. Tôi luôn ngạc nhiên vì ông có câu trả lời đơn giản cho mọi vấn đề phức tạp.

Dường như có những người sinh ra đã là gentleman: biết cái gì là đúng cho trong đa số hoàn cảnh, tử tế, độ lượng với những người xung quanh, luôn nhận phần thiệt về mình, không bao giờ kêu ca, không bao giờ giải thích. Có những người khác phải vấp váp, rèn luyện cả đời cũng chỉ đạt gần đến đó. Có những người khác sống cả đời với sự nhỏ nhen mà họ có từ khi sinh ra.

Written by thichhoctoan

13/01/2017 at 15:59

Posted in Uncategorized

Muốn gì

Định rủ bạn An viết blog. Mình bảo viết blog hay lắm. Đây này, bố cũng có blog đây này. Bạn An đọc tiếng Việt khó khăn. Tuy vậy chỉ mấy phút bạn ấy đã phát hiện ra nỗi khổ tâm của bố. An bảo cái trang thichhoctoan của bố trung bình mỗi năm lên có một bài mà cũng dám tự nhận là blog.

Nhân tiện chào mừng cơn mất ngủ triền miên quay về, chịu khó biên mấy thứ lăng nhăng để tăng “tần suất” bài cho blog. Tuần trước nhờ việc sửa bài cho bạn X.L., chuyên gia học máy số một Việt nam quê ở Hải Phòng, gửi đăng trên báo PI, mà kho từng vựng của mình nhập thêm một từ mới. Đó là từ “tần suất”: phải nói đây là một từ nghe rất khó chịu. Nghe như tiếng gọi thôi thúc mình tăng năng suất về một cái gì đó, không rõ cái gì. Nó không tạo ra cảm giác thanh thản cho người nghe.

Nhân nói về chuyện thanh thản, tuần trước có một cuộc tranh luận khá căng với bạn N.A. Bạn N.A. mê thiền, thích nói chuyện về phật giáo. Mình nói với N.A. là luận về khổ và cách diệt khổ của nhà Phật rất hay. Tuy nhiên, mình không đồng ý với sự cần thiết phải thủ tiêu nỗi khổ.

Không phải chờ lâu đâu, đến lúc đó thì ai cũng sẽ nằm đờ đẫn ở đâu đó. Lúc đó bạn sẽ không thấy khổ nữa đâu, mà ngược lại sẽ tha hồ thanh thản với vĩnh hằng. Không việc gì phải đốt cháy giai đoạn như thế.

Nếu còn lo lắng, còn khắc khoải với bao dự định chưa thực hiện được thì bạn nên mừng. Đấy là bằng chứng bạn vẫn còn đang sống. Cũng vì thế mà mình cũng không đồng ý với N.A. về sự cần thiết phải thủ tiêu sự ham muốn. Không có ham muốn thì làm gì có lo lắng, khắc khoải. Làm sao biết được bạn còn đang sống.

Tuy vậy muốn cho đúng cách, muốn một cách có ý thức, đòi hỏi cả một quá trình rèn luyện. Biết mình không muốn cái gì thì rất dễ. Tôi không thích thế này, tôi không thích thế nọ. Tôi thích muốn làm gì thì làm, nhưng người khác làm gì động đến tôi thì tôi không thích.

Biết mình không muốn cái gì rất dễ. Muốn lung tung, muốn những thứ mâu thuẫn nhau cũng rất dễ. Biết mình chính xác muốn gì, muốn một cách không tự mâu thuẫn, biết sẵn sàng trả giá cho điều mình muốn mới là khó. Biết đón nhận khổ đau như một yếu tố tất yếu của một cuốc sống thực sự, cuộc sống mà mình muốn, theo ý tôi, đó chính là cái làm cho người ta có thể hiên ngang với thân phận của mình.

Ai rồi cũng thành ra đất cả. Cái quan trọng không phải là tìm cảm giác thanh thản, cũng không phải là mưu cầu hạnh phúc, mà là giữ gìn phẩm giá của con người, khi đang còn sống.

Written by thichhoctoan

12/01/2017 at 04:00

Posted in Độc thoại

Bầu cử ở Mỹ

Dù đã sống ở Mỹ gần 10 năm, tôi vẫn không thực sự quan tâm, cảm thấy liên quan đến cuộc sống chính trị ở nước này. Phải đến mấy tuần trước ngày bầu cử tổng thống, tôi mới thỉnh thoảng đọc báo, theo dõi các bản tin dự báo. Kỳ thực là không ai trong số hai ứng kỷ viên lần này tạo ra cho tôi một sự phấn khích tích cực.

Một bên là ông Trump. Theo quan sát hạn chế của tôi, ông này gây được cảm tình với nhiều người bằng cách nói năng bặm trợn của mình, sẵn sàng giẫm lên mọi tabou, từ chủng tộc, tôn giáo, đến giới tính … Có người tin rằng người sẵn sàng vượt qua tabou là người trung thực. Tôi không tin phương pháp này. Tôi tin hơn vào phương pháp của an ninh, ta và tây, đánh giá độ trung thực của một người qua số lần anh ta nói ngược lại với phát biểu của chính mình trước đó. Vượt qua tabou giống như cởi trần, hoặc cởi truồng, ra ngoài đường. Thỉnh thoảng thì được, thường xuyên thì rất chướng. Và khoả thân thì không nhất thiết là đẹp cũng như đạp lên tabou không chắc là nói thật. Ngoài ra cái mà tôi rất không thích ở ông Trump là dường như ông ấy muốn giải quyết mọi việc bằng cán cân quyền lực, các khái niệm chân thiện mỹ được vứt hết vào sọt rác.

Bên kia là bà Clinton. Theo quan sát hạn chế của tôi, đặc điểm của bà là không có đặc điểm gì cả. Tôi có nghe bà diễn thuyết một hai lần, nhưng nghe xong không thể nhớ được bà ấy nói gì. Trên bình diện này thì ông Trump hơn hẳn. Nhiều người chỉ trích việc bà ấy vô nguyên tắc trong việc sử dụng email, tệ hơn nữa việc xoá đi 30 chục ngàn email, chắc phải là dấu hiệu của tham nhũng. Cá nhân tôi cần có những dấu hiệu thuyết phục hơn để bắt đầu tin vào chuyện bà ấy tham nhũng. Theo cảm nhận rất phiến diện của tôi thì bà Clinton không tốt cũng chẳng xấu, rất thích hợp với cương vị tổng thống.

Từ lâu tôi đã tin rằng phần lớn sướng khổ của cuộc đời mình là do mình gây ra, không nên mong chờ một vị lãnh tụ xuất sắc, một đấng cứu thế đến cứu rỗi mình. Tốt nhất là lãnh đạo không tốt cũng chẳng xấu, miễn là không làm gì lố quá là được. Ông Trump thì hoàn toàn có thể sẽ làm những thứ rất lố. Kinh nghiệm sống mười mấy năm ở châu Âu cho tôi thấy các nhà lãnh đạo dân tuý kiểu Trump và Sarkozy sẽ gây nhiều khó chịu mà kết cục cũng không làm nên trò gì cả.

Đa số cử tri Mỹ đã không suy nghĩ như tôi. Họ có vẻ đã chán bồ câu Obama và cảm thấy khát khao diều hâu Trump, giống như họ đã từng chán gentleman farmer Carter để bầu cho cowboy Reagan. Tâm hồn Mỹ hình như không ngừng dao động giữa cái chân thiện mỹ của tôn giáo tin lành và cuộc giành giật ăn miếng trả miếng của người đi khai hoang.

Quan trọng hơn cả là hôm qua ông Trump đã thắng cử một cách thuyết phục. The people have spoken. American democracy is just beautiful the way it is, even when it looks like a tragedy.

Written by thichhoctoan

24/11/2016 at 15:43

Posted in Uncategorized

Bát chiết yêu

 

Tôi sinh ra ở thành thị, không biết nhiều về nông thôn. Hồi bé thỉnh thoảng tôi được bố cho về quê, quê tôi là một cái làng nhỏ nằm ven sông Đáy. Vì không lần nào được ở quê quá một đêm, nên không cảm thấy gắn bó lắm. Cánh cò chấp chới ở cuối cánh đồng cũng gây cho tôi một chút bâng khuâng, nhưng không làm cho tâm hồn xao động như những ngọn gió đông thổi dọc phố Lý Thường Kiệt.

Tự dưng dạo này lại sinh ra cái ước ao được tận mắt nhìn thấy căn nhà ba gian mái tranh của người đồng bằng bắc bộ. Bạn bè dẫn tôi đến nhiều căn nhà ba gian dựng lại theo kiểu xưa, rông rãi thoáng mát và tiện nghi lắm, nhưng cái mà tôi tìm là cái hồn người xưa thì không ở đó. Tôi cũng không rõ cái hồn xưa đó có thật hay nó chỉ tồn tại trong trí tưởng tưởng của những người hoài cổ. Vậy mà tôi vẫn muốn đi tìm nó vì mặc dù chưa được nhìn thấy, tôn tin rằng nó tồn tại, có khi chỉ vì câu thơ của Quang Dũng

“Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn 

Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng”.

Tôi muốn tin rằng làng quê dưới hàng cau hiền lành là cái cốt của văn minh người Việt, chứ không phải mấy thứ u mê úm ba la mà bây giờ có thể nhìn thấy khắp nơi. Tin vậy thôi nhưng mà không chắc.

Hoạ sĩ Bùi Hoài Mai dựng lại một ngôi nhà ở Tiên Du, Bắc ninh. Tôi không rõ nó có giống với cái hình dáng lý tưởng của ngôi nhà Việt mà tôi đi tìm hay không, nhưng nó rất đáng yêu, phòng nào cũng nhỏ, chỗ nào cũng có chút gió mát, có chút hồn người.

Bùi Hoài Mai vốn sinh ra ở Hà nội, bây giờ có thể tự hào vì đã thành một lão nhà quê thực thụ. Bao nhọc nhằn của người nhà quê đã in cả lên cái điệu cười nhăn nhở của lão. Cần bao nhiêu nhọc nhằn để thổi lại chút hồn thơm thảo của người nhà quê vào từng nếp nhà, vào từng mái chùa của cái làng nhỏ ở Tiên Du. Lão thổi nó cả vào mấy cái bát đĩa ấm chén này nữa.

Tôi viết mấy dòng này vì tôi yêu lão Mai lắm, chứ không phải vì lão ấy tặng tôi ba cái bát chiết yêu. Đó là một ngày không thể quên, không phải vì lão Mai nấu ăn ngon, mà vì mải nghe lão Mai ba hoa về quy trình làm đồ gốm mà tôi về Hà nội muộn, không kịp đưa mẹ đi bệnh viện. May mà không làm sao. Phúc tổ bảy mốt đời.

Written by thichhoctoan

03/02/2016 at 16:34

Posted in Độc thoại