Thích Học Toán

Ông ngoại

Ngày xưa, những ngày gần Tết rét cóng. Các cụ già thi nhau ngỏm. Tuần sau có giỗ cả ông nội và ông ngoại.

Ông nội mất trước khi tôi sinh. Tôi chỉ biết một vài câu chuyện về ông nội qua lời kể của bố, bác Du và chú Văn. Ông cả đời làm ông giáo nghèo. Bố tôi có lần vác bộ cả bao gạo mấy chục cây số từ lên Hà Đông nơi ông dạy học. Cả đời ông chỉ mơ xây được cái “nhà tây”, tức là nhà mái bằng. Xây xong cái nhà tây thì ông mất. Nghĩ đến ông, thấy thương ông, thương bố và các bác.

Vì chưa gặp ông bao giờ nên tôi chỉ lưu trong đầu mình tấm ảnh của ông nội. Tuy thân thương, nhưng có gì đó xa cách và trừu tượng. Ngược lại với ông ngoại. Vì ở với ông ngoại từ bé nên cứ mỗi dịp Tết, nhất là mấy ngày trước giỗ ông, bao ký ức lại cuồn cuộn chảy về.

Hồi còn đi học mẫu giáo, ngày quan trọng nhất trong tuần với tôi là ngày thứ năm. Ngày thứ năm, ông ngoại đi làm về sớm đến đón tôi ở lớp mẫu giáo. Không nhớ dạo đó nghịch ngợm thế nào mà ngày nào tôi cũng bị cô giáo phạt. Riêng ngày thứ năm thì rất ngoan vì ông hứa nếu không bị cô phạt thì ông cho đi ăn kem. Kem ngày xưa ngon lắm. Một lần tuy đã rất kiềm chế, cả ngày không trêu ghẹo bạn nào, nhưng có lẽ vì thế nên căng thẳng quá mà đến chiều thì có vi phạm rất to là đái dầm. Buồn lắm vì như thế bao nhiêu cố gắng kiềm chế không trêu ai, không đánh ai, thành ra công cốc. Đến trường ông hỏi sao trông mặt cháu buồn thế, lại bị phạt à? Trả lời vâng ạ, cháu bị phạt vì tội đái dầm. Ông bảo đái dầm không phải là khuyết điểm vì không ai cố tình đái dầm cả. Nên vẫn được ăn kem. Tự bảo, trên đời chắc không có ai độ lượng như ông ngoại.

Lớn hơn chút, mỗi khi có việc gì quan trọng, tôi lại đòi ông ngoại đi đón. Mỗi lần đi thi biết có ông ngoại đi đón, cảm thấy rất vững tâm để làm bài. Cứ mỗi kỳ thi, mà học chuyên toán thì thi suốt, ông lại đi đón. Ông không bao giờ sai hẹn.

Tết nào ông cũng lôi ở đâu về rất nhiều trấu về nấu bánh chưng. Mấy anh em chạy lăng xăng xung quanh nồi bánh chưng của ông ngoại. Ông bảo chạy xa xa ra không làm đổ nồi bánh chưng của ông. Có lần không kìm được máu nghich ngầm, tôi ném một quả pháo tép vào đống củi lửa dưới nồi. Pháo nổ làm ông giật mình. Ông bực mình lắm, nhưng vì ông không quen mắng mỏ ai bao giờ, ông không tìm ra từ để mắng. Mấy anh em tôi được dịp tiếp tục lăng xăng nhảy nhót. Ông bực lắm mà chỉ biết trừng mắt lên rồi bảo: không được hỗn láo trước mặt cấp trên.

Khi về hưu, ông bà ngoại tôi mở quán xôi chè ở sân nhà Hàng Bài. Xôi chè bà nấu ngon nên đông khách. Ngày nào cũng như ngày nào, ông ngoại dạy từ 4 giờ sáng quét sân, dựng bạt, rồi cả ngày rửa không biết bao nhiêu bát đĩa của khách. Không một lời kêu ca.

Ông ngoại tôi sinh ra trong một gia đình rất giàu có. Trước cách mạng, ông đã có mấy cái xe hơi, thừa hưởng mấy chục căn nhà trên phố Bạch Mai. Có đủ nhà để mở trường cho trẻ em nghèo. Đi kháng chiến 9 năm về, người ta bắt ông đi cải tạo vì thành phần vẫn không tốt. Đi về ông hiến nhà nước toàn bộ nhà cửa ở Bạch Mai và gia đình tôi dọn về Hàng Bài nơi nhà nước cho thuê lại một chỗ ở. Toàn bộ tài sản của ông được xếp ngăn nắp trong một cái tủ nhỏ sơn màu xanh dương. Vậy mà cần gì ông mở tủ ra là có. Có lần tôi tự tiện mở tủ của ông để lấy bút viết, vì tôi hay làm mất bút. Ông bực lắm nhưng cũng chỉ nói, cháu không được tự tiện mở tủ cửa người khác. Rồi ông nói cháu lấy bút rồi, lần sau cháu xin ông đâu còn bút để cho.

Khi ông gần mất, tôi xin nghỉ được một hai tuần để về nhà, đến ngủ với ông ở trong bệnh viện. Lúc ấy ông đã hơi lẫn rồi. Nhưng đôi lúc vẫn còn tỉnh. Một lần như thế tôi hỏi ông có tiếc vì đã đi kháng chiến hay không? Ông bảo không, bọn Pháp chiếm nước mình thì mình phải đánh lại nó. Xong tôi hỏi ông có tiếc 30 căn nhà hiến cho nhà nước hay không. Ông bảo không, nếu không hiến thì mẹ cháu làm sao được đi học đại học. Tôi luôn ngạc nhiên vì ông có câu trả lời đơn giản cho mọi vấn đề phức tạp.

Dường như có những người sinh ra đã là gentleman: biết cái gì là đúng cho trong đa số hoàn cảnh, tử tế, độ lượng với những người xung quanh, luôn nhận phần thiệt về mình, không bao giờ kêu ca, không bao giờ giải thích. Có những người khác phải vấp váp, rèn luyện cả đời cũng chỉ đạt gần đến đó. Có những người khác sống cả đời với sự nhỏ nhen mà họ có từ khi sinh ra.

Written by thichhoctoan

13/01/2017 at 15:59

Posted in Uncategorized

Muốn gì

Định rủ bạn An viết blog. Mình bảo viết blog hay lắm. Đây này, bố cũng có blog đây này. Bạn An đọc tiếng Việt khó khăn. Tuy vậy chỉ mấy phút bạn ấy đã phát hiện ra nỗi khổ tâm của bố. An bảo cái trang thichhoctoan của bố trung bình mỗi năm lên có một bài mà cũng dám tự nhận là blog.

Nhân tiện chào mừng cơn mất ngủ triền miên quay về, chịu khó biên mấy thứ lăng nhăng để tăng “tần suất” bài cho blog. Tuần trước nhờ việc sửa bài cho bạn X.L., chuyên gia học máy số một Việt nam quê ở Hải Phòng, gửi đăng trên báo PI, mà kho từng vựng của mình nhập thêm một từ mới. Đó là từ “tần suất”: phải nói đây là một từ nghe rất khó chịu. Nghe như tiếng gọi thôi thúc mình tăng năng suất về một cái gì đó, không rõ cái gì. Nó không tạo ra cảm giác thanh thản cho người nghe.

Nhân nói về chuyện thanh thản, tuần trước có một cuộc tranh luận khá căng với bạn N.A. Bạn N.A. mê thiền, thích nói chuyện về phật giáo. Mình nói với N.A. là luận về khổ và cách diệt khổ của nhà Phật rất hay. Tuy nhiên, mình không đồng ý với sự cần thiết phải thủ tiêu nỗi khổ.

Không phải chờ lâu đâu, đến lúc đó thì ai cũng sẽ nằm đờ đẫn ở đâu đó. Lúc đó bạn sẽ không thấy khổ nữa đâu, mà ngược lại sẽ tha hồ thanh thản với vĩnh hằng. Không việc gì phải đốt cháy giai đoạn như thế.

Nếu còn lo lắng, còn khắc khoải với bao dự định chưa thực hiện được thì bạn nên mừng. Đấy là bằng chứng bạn vẫn còn đang sống. Cũng vì thế mà mình cũng không đồng ý với N.A. về sự cần thiết phải thủ tiêu sự ham muốn. Không có ham muốn thì làm gì có lo lắng, khắc khoải. Làm sao biết được bạn còn đang sống.

Tuy vậy muốn cho đúng cách, muốn một cách có ý thức, đòi hỏi cả một quá trình rèn luyện. Biết mình không muốn cái gì thì rất dễ. Tôi không thích thế này, tôi không thích thế nọ. Tôi thích muốn làm gì thì làm, nhưng người khác làm gì động đến tôi thì tôi không thích.

Biết mình không muốn cái gì rất dễ. Muốn lung tung, muốn những thứ mâu thuẫn nhau cũng rất dễ. Biết mình chính xác muốn gì, muốn một cách không tự mâu thuẫn, biết sẵn sàng trả giá cho điều mình muốn mới là khó. Biết đón nhận khổ đau như một yếu tố tất yếu của một cuốc sống thực sự, cuộc sống mà mình muốn, theo ý tôi, đó chính là cái làm cho người ta có thể hiên ngang với thân phận của mình.

Ai rồi cũng thành ra đất cả. Cái quan trọng không phải là tìm cảm giác thanh thản, cũng không phải là mưu cầu hạnh phúc, mà là giữ gìn phẩm giá của con người, khi đang còn sống.

Written by thichhoctoan

12/01/2017 at 04:00

Posted in Độc thoại

Bầu cử ở Mỹ

Dù đã sống ở Mỹ gần 10 năm, tôi vẫn không thực sự quan tâm, cảm thấy liên quan đến cuộc sống chính trị ở nước này. Phải đến mấy tuần trước ngày bầu cử tổng thống, tôi mới thỉnh thoảng đọc báo, theo dõi các bản tin dự báo. Kỳ thực là không ai trong số hai ứng kỷ viên lần này tạo ra cho tôi một sự phấn khích tích cực.

Một bên là ông Trump. Theo quan sát hạn chế của tôi, ông này gây được cảm tình với nhiều người bằng cách nói năng bặm trợn của mình, sẵn sàng giẫm lên mọi tabou, từ chủng tộc, tôn giáo, đến giới tính … Có người tin rằng người sẵn sàng vượt qua tabou là người trung thực. Tôi không tin phương pháp này. Tôi tin hơn vào phương pháp của an ninh, ta và tây, đánh giá độ trung thực của một người qua số lần anh ta nói ngược lại với phát biểu của chính mình trước đó. Vượt qua tabou giống như cởi trần, hoặc cởi truồng, ra ngoài đường. Thỉnh thoảng thì được, thường xuyên thì rất chướng. Và khoả thân thì không nhất thiết là đẹp cũng như đạp lên tabou không chắc là nói thật. Ngoài ra cái mà tôi rất không thích ở ông Trump là dường như ông ấy muốn giải quyết mọi việc bằng cán cân quyền lực, các khái niệm chân thiện mỹ được vứt hết vào sọt rác.

Bên kia là bà Clinton. Theo quan sát hạn chế của tôi, đặc điểm của bà là không có đặc điểm gì cả. Tôi có nghe bà diễn thuyết một hai lần, nhưng nghe xong không thể nhớ được bà ấy nói gì. Trên bình diện này thì ông Trump hơn hẳn. Nhiều người chỉ trích việc bà ấy vô nguyên tắc trong việc sử dụng email, tệ hơn nữa việc xoá đi 30 chục ngàn email, chắc phải là dấu hiệu của tham nhũng. Cá nhân tôi cần có những dấu hiệu thuyết phục hơn để bắt đầu tin vào chuyện bà ấy tham nhũng. Theo cảm nhận rất phiến diện của tôi thì bà Clinton không tốt cũng chẳng xấu, rất thích hợp với cương vị tổng thống.

Từ lâu tôi đã tin rằng phần lớn sướng khổ của cuộc đời mình là do mình gây ra, không nên mong chờ một vị lãnh tụ xuất sắc, một đấng cứu thế đến cứu rỗi mình. Tốt nhất là lãnh đạo không tốt cũng chẳng xấu, miễn là không làm gì lố quá là được. Ông Trump thì hoàn toàn có thể sẽ làm những thứ rất lố. Kinh nghiệm sống mười mấy năm ở châu Âu cho tôi thấy các nhà lãnh đạo dân tuý kiểu Trump và Sarkozy sẽ gây nhiều khó chịu mà kết cục cũng không làm nên trò gì cả.

Đa số cử tri Mỹ đã không suy nghĩ như tôi. Họ có vẻ đã chán bồ câu Obama và cảm thấy khát khao diều hâu Trump, giống như họ đã từng chán gentleman farmer Carter để bầu cho cowboy Reagan. Tâm hồn Mỹ hình như không ngừng dao động giữa cái chân thiện mỹ của tôn giáo tin lành và cuộc giành giật ăn miếng trả miếng của người đi khai hoang.

Quan trọng hơn cả là hôm qua ông Trump đã thắng cử một cách thuyết phục. The people have spoken. American democracy is just beautiful the way it is, even when it looks like a tragedy.

Written by thichhoctoan

24/11/2016 at 15:43

Posted in Uncategorized

Bát chiết yêu

 

Tôi sinh ra ở thành thị, không biết nhiều về nông thôn. Hồi bé thỉnh thoảng tôi được bố cho về quê, quê tôi là một cái làng nhỏ nằm ven sông Đáy. Vì không lần nào được ở quê quá một đêm, nên không cảm thấy gắn bó lắm. Cánh cò chấp chới ở cuối cánh đồng cũng gây cho tôi một chút bâng khuâng, nhưng không làm cho tâm hồn xao động như những ngọn gió đông thổi dọc phố Lý Thường Kiệt.

Tự dưng dạo này lại sinh ra cái ước ao được tận mắt nhìn thấy căn nhà ba gian mái tranh của người đồng bằng bắc bộ. Bạn bè dẫn tôi đến nhiều căn nhà ba gian dựng lại theo kiểu xưa, rông rãi thoáng mát và tiện nghi lắm, nhưng cái mà tôi tìm là cái hồn người xưa thì không ở đó. Tôi cũng không rõ cái hồn xưa đó có thật hay nó chỉ tồn tại trong trí tưởng tưởng của những người hoài cổ. Vậy mà tôi vẫn muốn đi tìm nó vì mặc dù chưa được nhìn thấy, tôn tin rằng nó tồn tại, có khi chỉ vì câu thơ của Quang Dũng

“Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn 

Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng”.

Tôi muốn tin rằng làng quê dưới hàng cau hiền lành là cái cốt của văn minh người Việt, chứ không phải mấy thứ u mê úm ba la mà bây giờ có thể nhìn thấy khắp nơi. Tin vậy thôi nhưng mà không chắc.

Hoạ sĩ Bùi Hoài Mai dựng lại một ngôi nhà ở Tiên Du, Bắc ninh. Tôi không rõ nó có giống với cái hình dáng lý tưởng của ngôi nhà Việt mà tôi đi tìm hay không, nhưng nó rất đáng yêu, phòng nào cũng nhỏ, chỗ nào cũng có chút gió mát, có chút hồn người.

Bùi Hoài Mai vốn sinh ra ở Hà nội, bây giờ có thể tự hào vì đã thành một lão nhà quê thực thụ. Bao nhọc nhằn của người nhà quê đã in cả lên cái điệu cười nhăn nhở của lão. Cần bao nhiêu nhọc nhằn để thổi lại chút hồn thơm thảo của người nhà quê vào từng nếp nhà, vào từng mái chùa của cái làng nhỏ ở Tiên Du. Lão thổi nó cả vào mấy cái bát đĩa ấm chén này nữa.

Tôi viết mấy dòng này vì tôi yêu lão Mai lắm, chứ không phải vì lão ấy tặng tôi ba cái bát chiết yêu. Đó là một ngày không thể quên, không phải vì lão Mai nấu ăn ngon, mà vì mải nghe lão Mai ba hoa về quy trình làm đồ gốm mà tôi về Hà nội muộn, không kịp đưa mẹ đi bệnh viện. May mà không làm sao. Phúc tổ bảy mốt đời.

Written by thichhoctoan

03/02/2016 at 16:34

Posted in Độc thoại

Hồ Léman

leman

Written by thichhoctoan

26/01/2016 at 19:51

Posted in Ảnh

Yêu nước

K là giáo sư toán ở đại học Yale, có quốc tich Mỹ nhưng gốc là người Nga, nói tiếng Mỹ vẫn đặc sệt giọng Nga. Có lần tôi hỏi anh ấy lần cuối anh về Nga là khi nào. Anh ấy nói từ khi tôi đi Mỹ tôi chưa quay lại Nga bao giờ. Nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, K nói rằng đối với anh ấy nước Nga cũng giống như bất kỳ một nước nào khác trên thế giới, anh không cảm thấy liên quan đến những gì hiện giờ đang xảy ra ở Nga. Trường hợp của K không phải là một trường hợp phổ biến, nhưng cũng không phải là một trường hợp cá biệt.

Tuy hơi bị bất ngờ nhưng tôi cảm thấy cái lý trong những chia sẻ rất thẳng thắn của K. Nói cho cùng thì tại sao mỗi người phải gắn bó với mảnh đất nơi mình sinh ra.

Một vài lần quá cảnh ở sân bay Hàn quốc hoặc Nhật bản, tôi bắt gặp vài tốp thanh niên Việt Nam, có vẻ như đến từ nông thôn, có vẻ như nói giọng Nghệ An, họ túm năm tụm ba, ngồi bệt uống bia, đánh bài, có vẻ như không quan tâm đến xung quanh, nhưng kỳ thực mắt vẫn nhìn quanh với một vẻ nửa hoang mang, nửa thách thức. Những lúc đó bỗng dưng tôi thấy quặn lòng thương đồng bào của mình. Ai trong số họ đã nợ ngập cổ để mua cho bằng được một suất đi xuất khẩu lao động, ai trong sô họ sẽ phải làm lụng vất vả mấy năm trời để trả hết số tiền đã vay, ai trong lúc bần cùng, nghe bạn bè rủ rê, sẽ đi ăn trộm ăn cắp.

Tại sao lại đồng cảm với họ? Ngoài tiếng Việt là ngôn ngữ có thể dùng để hiểu nhau, ngoài nơi sinh Hà Nội và Nghệ An cách nhau vài trăm cây số, tôi có gì chung với họ. Tại sao tôi vẫn cảm thấy “liên quan” đến số phận của họ? Tôi thấy chỉ có một câu trả lời hợp lý duy nhất: sự “liên quan” đó chính là lòng yêu nước. Nếu đó là tình yêu thì có lẽ không cần tìm cách lý giải nữa.

Chắc chắn mỗi người yêu nước, hoặc không, theo một cách khác nhau. Nhưng tôi cho rằng, yêu nước, về cơ bản, là cảm thấy “liên quan” đến số phận của đồng bào mình.

*****

Tôi rất thích xem bản đồ. Nhìn cái quả cầu xanh xanh nhớ lại chỗ này chỗ kia mình đã đi qua. Nhớ cánh đồng lúa xanh mướt, nhớ con đường nho nhỏ chạy thẳng ra biển mà ở ven ven thấp thoáng những tháp chuông nhà thờ. Nhớ những đỉnh núi hùng vĩ quanh năm tuyết trắng, nhớ những cánh rừng thông xào xạc chạy dọc bờ biển Đại tây dương. Chỗ nào cũng cảm thấy như nhà mình, trái đất là nhà mình, dù rằng có một vài điểm hình như thân thương hơn các điểm khác.

Nếu hay xem bản đồ thế giới, đến một lúc nào đó, bạn sẽ có một phát hiện rất lạ lùng. Hoá ra cái điểm Việt Nam thân thương không hề là trái tim của nhân loại. Nó nằm ở nơi cùng trời cuối đất. Đi tiếp sang phía đông, hay xuống phía nam là biển rộng, là đại dương.

Văn minh nhân loại được mở rộng và phát triển nhờ vào những cuộc viễn chinh, những làn sóng di dân. Chiến tranh và những cuộc di dân, vừa là tai hoạ cho cuộc sống con người, lại vừa là phương tiện chuyên chở  tôn giáo, những tư tưởng nhân văn, những kiến thức về tổ chức xã hội, những phát kiến khoa học và kỹ thuật. Những cuộc chiến tranh, những cuộc di dân, những thảm hoạ đã từng cầy xới châu Âu cũng đã là một nguyên nhân làm cho nó trở nên phồn thịnh, văn minh.

Có lẽ vì đất nước của chúng ta nằm ở nơi cùng trời cuối đất mà trong gần hai ngàn năm, nó hầu như nằm bên rìa của văn minh nhân loại. Chiến tranh, thực ra không nhiều, hầu như đều đến từ phương Bắc, người di dân hầu hết cũng đến từ Trung hoa. Trước khi người Pháp xâm chiếm Việt nam, văn minh Trung hoa là hệ quy chiếu duy nhất của người dân đồng bằng Bắc bộ.

Cuộc sống bây giờ đã khác nhiều. Ngay cả những thanh niên nông thôn mà tôi gặp ở sân bay Narita, dù có lẽ họ không có một hệ quy chiếu nào khác ngoài một bộ ứng xử của người nhà quê, mà nền tảng lý luận dường như là một dạng tối giản của văn minh Trung hoa, họ cũng hiểu rõ họ cần thoát ra ngoài cái khung đó để mưu cầu hạnh phúc, và họ muốn thoát ra bằng mọi giá.

*****

Mấy tuần gần đây, dù muốn hay không, mà thực ra là không muốn, tôi cảm thấy rất quan tâm đến diễn biến chính trị ở Việt nam. Tôi nhận thấy rất nhiều người cũng quan tâm như tôi, có lẽ quan tâm đến Đại hội lần này hơn hẳn so với những Đại hội lần trước, dù rằng về cơ bản, chúng ta không “liên quan” gì đến Đại hội của “họ”.

Cảm giác quan tâm đó đến từ đâu, nếu không phải là khát vọng có ở trong mỗi chúng ta, khát vọng thoát ra khỏi thân phận của một nơi cùng trời cuối đất, gắn vào thế giới bằng một sợi dây lơ lửng buộc vào Trung hoa, thoát ra khỏi cái khung chật chội của Khổng giáo.

Tôi không định nói chúng ta phải quay lưng lại với cốt cách của con người Việt nam truyền thống. Đối với tôi, cậu thanh niên Nghệ an quần áo xộc xệch dáng vẻ lấm lét ở sân bay Narita, dường như thân thương hơn nhiều so với các nam thanh nữ tú Hong kong đang dán mắt vào cửa kính các quầy hàng duty free.

Nhưng tôi mong muốn một khế ước xã hội như những khế ước xã hội đã là nền tảng cho những nước phát triển. Tôi muốn một xã hội công bằng được đảm bảo bởi một nhà nước pháp quyền. Tôi muốn một nền kinh tế lành mạnh, phồn thịnh hoạt động trên nguyên tắc thị trường. Tôi muốn một xã hội mà ở đó người dân có thể tự tổ chức cuộc sống cộng đồng của mình mà không bị cản trở, đó là xã hội dân sự.

Vì cái chúng ta cần là một xã hội công bằng, phồn thịnh và một cuộc sống cộng đồng gắn bó, nên người lãnh đạo mà chúng ta muốn là một người cổ suý cho nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự.

*****

Ngay cả khi không có lá phiếu, người dân cũng cần nói rõ về xã hội mà mình muốn. Nói được cái mình muốn không hề dễ, nó khó hơn nhiều so với nói cái mình không muốn. Nếu không nói được cái mình muốn, nó sẽ không bao giờ xảy ra.

Written by thichhoctoan

26/01/2016 at 19:05

Posted in Độc thoại

Lời giới thiệu cho sách “Tình yêu và toán học”

Tôi gặp Edward Frenkel lần đầu vào năm 1999 khi anh đến Paris báo cáo trong hội thảo thường niên của Bourbaki. Tuy chỉ hơn tôi bốn tuổi nhưng vào thời điểm đó, khi tôi còn chập chững bước vào nghề, thì anh đã có ghế giáo sư đại học Berkeley và là một ngôi sao đang lên trong bầu trời toán học. Phiên báo cáo của anh gây ấn tượng khó quên. Anh trình bày về một vấn đề hóc búa, rất trừu tượng với một vẻ dễ dàng, thảnh thơi. Anh có một phong cách rất lạ so với các nhà toán học khác, và có gì đó hao hao giống một tài tử điện ảnh.

Khoảng mười năm sau, tôi có dịp cộng tác khoa học với Edward trong một thời gian khá dài. Làm việc cùng nhau, tôi nhận ra ở anh nhiều năng khiếu trong đó có khả năng nắm bắt vấn đề rất nhanh để rồi phát biểu và diễn giải nó một cách vô cùng trong sáng và lịch lãm. Năng khiếu đó được Edward vận dụng trong quyển sách mà quý độc giả đang cầm trên tay để giải thích những khái niệm hóc búa của toán học và vật lý thuyết bằng ngôn ngữ mà trên nguyên tắc ai cũng có thể hiểu được.

Viết về toán học cho công chúng hàm chứa nhiều rủi ro. Bạn luôn đi giữa hai bờ vực, một bên là ngôn ngữ hàn lâm có tính chất đánh đố với độc giả phổ thông, một bên là ngôn ngữ đời thường, đôi khi dễ dãi, làm bạn trượt chân rơi vào vực thẳm của sự thiếu chính xác, của sự tối nghĩa. Tác giả Edward Frenkel dường như đã tìm được sợi dây mỏng tang giữa hai hai vực thẳm rồi bước trên sợi dây đấy những bước chân thảnh thơi, giống như ta tản bộ sáng mỗi ngày.

Một số người làm toán chuyên nghiệp, trong đó có tôi, chưa thực sự mãn nguyện khi đọc cuốn sách này. Khi nói về chương trình Langlands, tác giả dường như né tránh bằng cách giữ im lặng những gì sâu sắc nhất. Nhưng sẽ không công bằng khi độc giả cứ mong muốn tác giả phải diễn đạt những ý tưởng toán học sâu sắc nhất bằng ngôn ngữ đời thường, một việc rất có thể là bất khả.

Rất may mắn, chương trình Langlands và vật lý lý thuyết chỉ là món dessert cho cuốn sách này. Món chính cũng chính là tên cuốn sách “tình yêu và toán học”; mà nếu chúng ta bỏ chữ “và” đi thì sẽ đúng nghĩa hơn. Tác giả đã thuật lại câu chuyện tình yêu của mình với toán học, từ lúc là một cậu bé sống trong một thành phố nhỏ của Liên bang Xô Viết, được tiếp nhận vào môi trường toán học sôi động ở Moscow, rồi cuối cùng là Harvard và Berkeley.

Đối với một người ở “ngoại vi” như tôi, môi trường toán học Xô Viết luôn là một bí mật đầy hấp dẫn. Phải chăng sự thiếu thốn vật chất và thông tin, không khí kỳ thị Do Thái (mà tác giả dành nhiều trang sách để đề cập tới), chính là chất xúc tác trực tiếp hay gián tiếp làm cho toán học sinh trưởng. Liệu sự thiếu thốn vật chất, thông tin, và kỳ thị sắc tộc, có tạo nên một môi trường lý tưởng cho sự phát triển của toán học? Câu chuyện của tác giả, được thuật lại một cách chân thực, cho phép độc giả bước một chân vào phía sau bức màn bí mật ấy.

Cảm ơn các dịch giả Phạm Văn Thiều và Nguyễn Duy Khánh, và nhà sách Nhã Nam đã mang cuốn sách thú vị này tới tay các bạn đọc Việt Nam.

Written by thichhoctoan

22/06/2015 at 16:04

Posted in Sách