Thích Học Toán

Bầu cử ở Mỹ

Dù đã sống ở Mỹ gần 10 năm, tôi vẫn không thực sự quan tâm, cảm thấy liên quan đến cuộc sống chính trị ở nước này. Phải đến mấy tuần trước ngày bầu cử tổng thống, tôi mới thỉnh thoảng đọc báo, theo dõi các bản tin dự báo. Kỳ thực là không ai trong số hai ứng kỷ viên lần này tạo ra cho tôi một sự phấn khích tích cực.

Một bên là ông Trump. Theo quan sát hạn chế của tôi, ông này gây được cảm tình với nhiều người bằng cách nói năng bặm trợn của mình, sẵn sàng giẫm lên mọi tabou, từ chủng tộc, tôn giáo, đến giới tính … Có người tin rằng người sẵn sàng vượt qua tabou là người trung thực. Tôi không tin phương pháp này. Tôi tin hơn vào phương pháp của an ninh, ta và tây, đánh giá độ trung thực của một người qua số lần anh ta nói ngược lại với phát biểu của chính mình trước đó. Vượt qua tabou giống như cởi trần, hoặc cởi truồng, ra ngoài đường. Thỉnh thoảng thì được, thường xuyên thì rất chướng. Và khoả thân thì không nhất thiết là đẹp cũng như đạp lên tabou không chắc là nói thật. Ngoài ra cái mà tôi rất không thích ở ông Trump là dường như ông ấy muốn giải quyết mọi việc bằng cán cân quyền lực, các khái niệm chân thiện mỹ được vứt hết vào sọt rác.

Bên kia là bà Clinton. Theo quan sát hạn chế của tôi, đặc điểm của bà là không có đặc điểm gì cả. Tôi có nghe bà diễn thuyết một hai lần, nhưng nghe xong không thể nhớ được bà ấy nói gì. Trên bình diện này thì ông Trump hơn hẳn. Nhiều người chỉ trích việc bà ấy vô nguyên tắc trong việc sử dụng email, tệ hơn nữa việc xoá đi 30 chục ngàn email, chắc phải là dấu hiệu của tham nhũng. Cá nhân tôi cần có những dấu hiệu thuyết phục hơn để bắt đầu tin vào chuyện bà ấy tham nhũng. Theo cảm nhận rất phiến diện của tôi thì bà Clinton không tốt cũng chẳng xấu, rất thích hợp với cương vị tổng thống.

Từ lâu tôi đã tin rằng phần lớn sướng khổ của cuộc đời mình là do mình gây ra, không nên mong chờ một vị lãnh tụ xuất sắc, một đấng cứu thế đến cứu rỗi mình. Tốt nhất là lãnh đạo không tốt cũng chẳng xấu, miễn là không làm gì lố quá là được. Ông Trump thì hoàn toàn có thể sẽ làm những thứ rất lố. Kinh nghiệm sống mười mấy năm ở châu Âu cho tôi thấy các nhà lãnh đạo dân tuý kiểu Trump và Sarkozy sẽ gây nhiều khó chịu mà kết cục cũng không làm nên trò gì cả.

Đa số cử tri Mỹ đã không suy nghĩ như tôi. Họ có vẻ đã chán bồ câu Obama và cảm thấy khát khao diều hâu Trump, giống như họ đã từng chán gentleman farmer Carter để bầu cho cowboy Reagan. Tâm hồn Mỹ hình như không ngừng dao động giữa cái chân thiện mỹ của tôn giáo tin lành và cuộc giành giật ăn miếng trả miếng của người đi khai hoang.

Quan trọng hơn cả là hôm qua ông Trump đã thắng cử một cách thuyết phục. The people have spoken. American democracy is just beautiful the way it is, even when it looks like a tragedy.

Written by thichhoctoan

24/11/2016 at 15:43

Posted in Uncategorized

Bát chiết yêu

 

Tôi sinh ra ở thành thị, không biết nhiều về nông thôn. Hồi bé thỉnh thoảng tôi được bố cho về quê, quê tôi là một cái làng nhỏ nằm ven sông Đáy. Vì không lần nào được ở quê quá một đêm, nên không cảm thấy gắn bó lắm. Cánh cò chấp chới ở cuối cánh đồng cũng gây cho tôi một chút bâng khuâng, nhưng không làm cho tâm hồn xao động như những ngọn gió đông thổi dọc phố Lý Thường Kiệt.

Tự dưng dạo này lại sinh ra cái ước ao được tận mắt nhìn thấy căn nhà ba gian mái tranh của người đồng bằng bắc bộ. Bạn bè dẫn tôi đến nhiều căn nhà ba gian dựng lại theo kiểu xưa, rông rãi thoáng mát và tiện nghi lắm, nhưng cái mà tôi tìm là cái hồn người xưa thì không ở đó. Tôi cũng không rõ cái hồn xưa đó có thật hay nó chỉ tồn tại trong trí tưởng tưởng của những người hoài cổ. Vậy mà tôi vẫn muốn đi tìm nó vì mặc dù chưa được nhìn thấy, tôn tin rằng nó tồn tại, có khi chỉ vì câu thơ của Quang Dũng

“Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn 

Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng”.

Tôi muốn tin rằng làng quê dưới hàng cau hiền lành là cái cốt của văn minh người Việt, chứ không phải mấy thứ u mê úm ba la mà bây giờ có thể nhìn thấy khắp nơi. Tin vậy thôi nhưng mà không chắc.

Hoạ sĩ Bùi Hoài Mai dựng lại một ngôi nhà ở Tiên Du, Bắc ninh. Tôi không rõ nó có giống với cái hình dáng lý tưởng của ngôi nhà Việt mà tôi đi tìm hay không, nhưng nó rất đáng yêu, phòng nào cũng nhỏ, chỗ nào cũng có chút gió mát, có chút hồn người.

Bùi Hoài Mai vốn sinh ra ở Hà nội, bây giờ có thể tự hào vì đã thành một lão nhà quê thực thụ. Bao nhọc nhằn của người nhà quê đã in cả lên cái điệu cười nhăn nhở của lão. Cần bao nhiêu nhọc nhằn để thổi lại chút hồn thơm thảo của người nhà quê vào từng nếp nhà, vào từng mái chùa của cái làng nhỏ ở Tiên Du. Lão thổi nó cả vào mấy cái bát đĩa ấm chén này nữa.

Tôi viết mấy dòng này vì tôi yêu lão Mai lắm, chứ không phải vì lão ấy tặng tôi ba cái bát chiết yêu. Đó là một ngày không thể quên, không phải vì lão Mai nấu ăn ngon, mà vì mải nghe lão Mai ba hoa về quy trình làm đồ gốm mà tôi về Hà nội muộn, không kịp đưa mẹ đi bệnh viện. May mà không làm sao. Phúc tổ bảy mốt đời.

Written by thichhoctoan

03/02/2016 at 16:34

Posted in Độc thoại

Hồ Léman

leman

Written by thichhoctoan

26/01/2016 at 19:51

Posted in Ảnh

Yêu nước

K là giáo sư toán ở đại học Yale, có quốc tich Mỹ nhưng gốc là người Nga, nói tiếng Mỹ vẫn đặc sệt giọng Nga. Có lần tôi hỏi anh ấy lần cuối anh về Nga là khi nào. Anh ấy nói từ khi tôi đi Mỹ tôi chưa quay lại Nga bao giờ. Nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, K nói rằng đối với anh ấy nước Nga cũng giống như bất kỳ một nước nào khác trên thế giới, anh không cảm thấy liên quan đến những gì hiện giờ đang xảy ra ở Nga. Trường hợp của K không phải là một trường hợp phổ biến, nhưng cũng không phải là một trường hợp cá biệt.

Tuy hơi bị bất ngờ nhưng tôi cảm thấy cái lý trong những chia sẻ rất thẳng thắn của K. Nói cho cùng thì tại sao mỗi người phải gắn bó với mảnh đất nơi mình sinh ra.

Một vài lần quá cảnh ở sân bay Hàn quốc hoặc Nhật bản, tôi bắt gặp vài tốp thanh niên Việt Nam, có vẻ như đến từ nông thôn, có vẻ như nói giọng Nghệ An, họ túm năm tụm ba, ngồi bệt uống bia, đánh bài, có vẻ như không quan tâm đến xung quanh, nhưng kỳ thực mắt vẫn nhìn quanh với một vẻ nửa hoang mang, nửa thách thức. Những lúc đó bỗng dưng tôi thấy quặn lòng thương đồng bào của mình. Ai trong số họ đã nợ ngập cổ để mua cho bằng được một suất đi xuất khẩu lao động, ai trong sô họ sẽ phải làm lụng vất vả mấy năm trời để trả hết số tiền đã vay, ai trong lúc bần cùng, nghe bạn bè rủ rê, sẽ đi ăn trộm ăn cắp.

Tại sao lại đồng cảm với họ? Ngoài tiếng Việt là ngôn ngữ có thể dùng để hiểu nhau, ngoài nơi sinh Hà Nội và Nghệ An cách nhau vài trăm cây số, tôi có gì chung với họ. Tại sao tôi vẫn cảm thấy “liên quan” đến số phận của họ? Tôi thấy chỉ có một câu trả lời hợp lý duy nhất: sự “liên quan” đó chính là lòng yêu nước. Nếu đó là tình yêu thì có lẽ không cần tìm cách lý giải nữa.

Chắc chắn mỗi người yêu nước, hoặc không, theo một cách khác nhau. Nhưng tôi cho rằng, yêu nước, về cơ bản, là cảm thấy “liên quan” đến số phận của đồng bào mình.

*****

Tôi rất thích xem bản đồ. Nhìn cái quả cầu xanh xanh nhớ lại chỗ này chỗ kia mình đã đi qua. Nhớ cánh đồng lúa xanh mướt, nhớ con đường nho nhỏ chạy thẳng ra biển mà ở ven ven thấp thoáng những tháp chuông nhà thờ. Nhớ những đỉnh núi hùng vĩ quanh năm tuyết trắng, nhớ những cánh rừng thông xào xạc chạy dọc bờ biển Đại tây dương. Chỗ nào cũng cảm thấy như nhà mình, trái đất là nhà mình, dù rằng có một vài điểm hình như thân thương hơn các điểm khác.

Nếu hay xem bản đồ thế giới, đến một lúc nào đó, bạn sẽ có một phát hiện rất lạ lùng. Hoá ra cái điểm Việt Nam thân thương không hề là trái tim của nhân loại. Nó nằm ở nơi cùng trời cuối đất. Đi tiếp sang phía đông, hay xuống phía nam là biển rộng, là đại dương.

Văn minh nhân loại được mở rộng và phát triển nhờ vào những cuộc viễn chinh, những làn sóng di dân. Chiến tranh và những cuộc di dân, vừa là tai hoạ cho cuộc sống con người, lại vừa là phương tiện chuyên chở  tôn giáo, những tư tưởng nhân văn, những kiến thức về tổ chức xã hội, những phát kiến khoa học và kỹ thuật. Những cuộc chiến tranh, những cuộc di dân, những thảm hoạ đã từng cầy xới châu Âu cũng đã là một nguyên nhân làm cho nó trở nên phồn thịnh, văn minh.

Có lẽ vì đất nước của chúng ta nằm ở nơi cùng trời cuối đất mà trong gần hai ngàn năm, nó hầu như nằm bên rìa của văn minh nhân loại. Chiến tranh, thực ra không nhiều, hầu như đều đến từ phương Bắc, người di dân hầu hết cũng đến từ Trung hoa. Trước khi người Pháp xâm chiếm Việt nam, văn minh Trung hoa là hệ quy chiếu duy nhất của người dân đồng bằng Bắc bộ.

Cuộc sống bây giờ đã khác nhiều. Ngay cả những thanh niên nông thôn mà tôi gặp ở sân bay Narita, dù có lẽ họ không có một hệ quy chiếu nào khác ngoài một bộ ứng xử của người nhà quê, mà nền tảng lý luận dường như là một dạng tối giản của văn minh Trung hoa, họ cũng hiểu rõ họ cần thoát ra ngoài cái khung đó để mưu cầu hạnh phúc, và họ muốn thoát ra bằng mọi giá.

*****

Mấy tuần gần đây, dù muốn hay không, mà thực ra là không muốn, tôi cảm thấy rất quan tâm đến diễn biến chính trị ở Việt nam. Tôi nhận thấy rất nhiều người cũng quan tâm như tôi, có lẽ quan tâm đến Đại hội lần này hơn hẳn so với những Đại hội lần trước, dù rằng về cơ bản, chúng ta không “liên quan” gì đến Đại hội của “họ”.

Cảm giác quan tâm đó đến từ đâu, nếu không phải là khát vọng có ở trong mỗi chúng ta, khát vọng thoát ra khỏi thân phận của một nơi cùng trời cuối đất, gắn vào thế giới bằng một sợi dây lơ lửng buộc vào Trung hoa, thoát ra khỏi cái khung chật chội của Khổng giáo.

Tôi không định nói chúng ta phải quay lưng lại với cốt cách của con người Việt nam truyền thống. Đối với tôi, cậu thanh niên Nghệ an quần áo xộc xệch dáng vẻ lấm lét ở sân bay Narita, dường như thân thương hơn nhiều so với các nam thanh nữ tú Hong kong đang dán mắt vào cửa kính các quầy hàng duty free.

Nhưng tôi mong muốn một khế ước xã hội như những khế ước xã hội đã là nền tảng cho những nước phát triển. Tôi muốn một xã hội công bằng được đảm bảo bởi một nhà nước pháp quyền. Tôi muốn một nền kinh tế lành mạnh, phồn thịnh hoạt động trên nguyên tắc thị trường. Tôi muốn một xã hội mà ở đó người dân có thể tự tổ chức cuộc sống cộng đồng của mình mà không bị cản trở, đó là xã hội dân sự.

Vì cái chúng ta cần là một xã hội công bằng, phồn thịnh và một cuộc sống cộng đồng gắn bó, nên người lãnh đạo mà chúng ta muốn là một người cổ suý cho nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự.

*****

Ngay cả khi không có lá phiếu, người dân cũng cần nói rõ về xã hội mà mình muốn. Nói được cái mình muốn không hề dễ, nó khó hơn nhiều so với nói cái mình không muốn. Nếu không nói được cái mình muốn, nó sẽ không bao giờ xảy ra.

Written by thichhoctoan

26/01/2016 at 19:05

Posted in Độc thoại

Lời giới thiệu cho sách “Tình yêu và toán học”

Tôi gặp Edward Frenkel lần đầu vào năm 1999 khi anh đến Paris báo cáo trong hội thảo thường niên của Bourbaki. Tuy chỉ hơn tôi bốn tuổi nhưng vào thời điểm đó, khi tôi còn chập chững bước vào nghề, thì anh đã có ghế giáo sư đại học Berkeley và là một ngôi sao đang lên trong bầu trời toán học. Phiên báo cáo của anh gây ấn tượng khó quên. Anh trình bày về một vấn đề hóc búa, rất trừu tượng với một vẻ dễ dàng, thảnh thơi. Anh có một phong cách rất lạ so với các nhà toán học khác, và có gì đó hao hao giống một tài tử điện ảnh.

Khoảng mười năm sau, tôi có dịp cộng tác khoa học với Edward trong một thời gian khá dài. Làm việc cùng nhau, tôi nhận ra ở anh nhiều năng khiếu trong đó có khả năng nắm bắt vấn đề rất nhanh để rồi phát biểu và diễn giải nó một cách vô cùng trong sáng và lịch lãm. Năng khiếu đó được Edward vận dụng trong quyển sách mà quý độc giả đang cầm trên tay để giải thích những khái niệm hóc búa của toán học và vật lý thuyết bằng ngôn ngữ mà trên nguyên tắc ai cũng có thể hiểu được.

Viết về toán học cho công chúng hàm chứa nhiều rủi ro. Bạn luôn đi giữa hai bờ vực, một bên là ngôn ngữ hàn lâm có tính chất đánh đố với độc giả phổ thông, một bên là ngôn ngữ đời thường, đôi khi dễ dãi, làm bạn trượt chân rơi vào vực thẳm của sự thiếu chính xác, của sự tối nghĩa. Tác giả Edward Frenkel dường như đã tìm được sợi dây mỏng tang giữa hai hai vực thẳm rồi bước trên sợi dây đấy những bước chân thảnh thơi, giống như ta tản bộ sáng mỗi ngày.

Một số người làm toán chuyên nghiệp, trong đó có tôi, chưa thực sự mãn nguyện khi đọc cuốn sách này. Khi nói về chương trình Langlands, tác giả dường như né tránh bằng cách giữ im lặng những gì sâu sắc nhất. Nhưng sẽ không công bằng khi độc giả cứ mong muốn tác giả phải diễn đạt những ý tưởng toán học sâu sắc nhất bằng ngôn ngữ đời thường, một việc rất có thể là bất khả.

Rất may mắn, chương trình Langlands và vật lý lý thuyết chỉ là món dessert cho cuốn sách này. Món chính cũng chính là tên cuốn sách “tình yêu và toán học”; mà nếu chúng ta bỏ chữ “và” đi thì sẽ đúng nghĩa hơn. Tác giả đã thuật lại câu chuyện tình yêu của mình với toán học, từ lúc là một cậu bé sống trong một thành phố nhỏ của Liên bang Xô Viết, được tiếp nhận vào môi trường toán học sôi động ở Moscow, rồi cuối cùng là Harvard và Berkeley.

Đối với một người ở “ngoại vi” như tôi, môi trường toán học Xô Viết luôn là một bí mật đầy hấp dẫn. Phải chăng sự thiếu thốn vật chất và thông tin, không khí kỳ thị Do Thái (mà tác giả dành nhiều trang sách để đề cập tới), chính là chất xúc tác trực tiếp hay gián tiếp làm cho toán học sinh trưởng. Liệu sự thiếu thốn vật chất, thông tin, và kỳ thị sắc tộc, có tạo nên một môi trường lý tưởng cho sự phát triển của toán học? Câu chuyện của tác giả, được thuật lại một cách chân thực, cho phép độc giả bước một chân vào phía sau bức màn bí mật ấy.

Cảm ơn các dịch giả Phạm Văn Thiều và Nguyễn Duy Khánh, và nhà sách Nhã Nam đã mang cuốn sách thú vị này tới tay các bạn đọc Việt Nam.

Written by thichhoctoan

22/06/2015 at 16:04

Posted in Sách

Giới thiệu sách “Kẻ trăn trở”

Anh Lương Hoài Nam không phải là nhà báo. Công việc thường ngày của anh cũng không phải là nghiên cứu giáo dục. Anh làm việc trong lĩnh vực kinh doanh hàng không và du lịch. Vậy mà trong một vài năm gần đây, anh Nam đã viết hàng chục bài về đề tài cải cách giáo dục đăng tải trên cả báo giấy, báo điện tử và mạng xã hội. Những bài viết của anh luôn đầy ắp tư liệu, được dẫn dắt bởi tư duy mạch lạc và trình bày với văn phong trong sáng, dễ hiểu.

Tôi nghĩ rằng để đọc những bài viết của anh Nam về giáo dục, nên bắt đầu bằng bài viết mang tính tự sự : “Từ lũy tre làng ra biển lớn & Nhận thức về “Tây học”. Đây cũng là một trong những bài viết mà tôi thích nhất. Câu chuyện từ luỹ tre làng đi ra biển lớn hẳn không phải là chuyện riêng của anh Nam, mà là của đa số trong chúng ta và có lẽ không nên e ngại xáo ngữ mà không khái quát nó lên như câu chuyện của dân tộc.

Trong câu chuyện giáo dục, câu hỏi anh (hay tôi) thuộc về luỹ tre làng hay thuộc về biển lớn thực ra không quan trọng lắm. Câu hỏi quan trọng là anh có muốn con anh sống với thế giới rộng lớn hơn thế giới của chính bản thân anh hay không? Nếu chúng ta đã thực sự rành mạch với bản thân mình rồi thì câu hỏi chọn mô hình nào cho giáo dục sẽ không cần bàn cãi nhiều nữa.

Đọc những bài anh Nam viết riêng về giáo dục, tôi vẫn nhận ra tư duy của doanh nhân hàng ngày vật lộn với sự khốc liệt của môi trường cạnh tranh. Tôi dạy học và nghiên cứu ở một đại học, công việc của tôi rất khác với công việc của anh Nam. Nhưng có một điểm chung trong suy nghĩ của tôi và anh là khi mình đã chấp nhận sống trong môi trường cạnh tranh của thế giới rộng mở, mình phải cất thật kỹ những bản sắc dân tộc, có thể là rất thiêng liêng với cuộc sống riêng tư của mình, để mà hoà nhập hoàn toàn vào cuộc chơi chung. Không làm được như vậy thì ta chỉ còn cách tự an ủi với vị thế của người thua cuộc.

Với tư duy mạch lạc của một doanh nhân có nhiều kinh nghiệm, những bài viết của anh Nam luôn dựa trên những bảng biểu đối sánh, những con số cụ thể. Anh cũng nhìn giáo dục từ quan điểm của thị trường lao động, mong muốn giáo dục đáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu của nền kinh tế, thay vì chỉ hướng tới các giá trị chân thiện mỹ.

Hy vọng tuyển tập này với những bài viết của anh Lương Hoài Nam về giáo dục và cả về những chủ đề xã hội khác, sẽ đến được tay của nhiều bạn đọc. Tôi tin rằng những trăn trở của anh sẽ gặp gỡ nhiều trăn trở của những người khác, để thai nghén những vận động tích cực của xã hội.

Written by thichhoctoan

22/06/2015 at 11:48

Posted in Uncategorized

Định chế dân chủ để làm gì?

Nhân câu chuyện “ông nghè” ở Đại học Ngoại thương mà Thanh Tran-Trong nhắc đến, tôi mạn phép kể với các cụ một câu chuyện mang tính tổng quát và giả định, không liên quan trực tiếp đến câu chuyện của trường Ngoại thương:

1) Việc tuyển dụng ở đại học VN theo tôi hiểu thường diễn ra như sau. Anh A muốn làm giảng viên ở trường X. Anh ấy sẽ huy động các mối quan hệ trong gia đình, bạn bè để tiếp cận với ông trưởng khoa tên là B. Sau khi đã tiếp cận được rồi, anh A sẽ đến gặp ông B. Anh A sẽ kể chuyện mình học ở trường danh giá nào, đã nghiên cứu những về vấn đề quan trọng nào. Ông B nhân dịp sẽ khoe khoa mình tốt như thế nào, bản thân mình nghiên cứu khoa học ra sao … Bỏ qua các vấn đề lằng nhằng rất có thể có hoặc không và giả sử ông B thấy anh A cũng được đấy, ông B sẽ nói chuyện về anh A với một vài cán bộ chủ chốt trong khoa, đưa việc tuyển anh A ra họp giao ban, họp đảng uỷ … Sau đó moi việc sẽ được thực hiện đúng quy trình, thành lập uỷ ban tuyển dụng đầy đủ các ban bệ của trường, đặc biệt là phòng tổ chức cán bộ, nơi nắm vững các quy trình thủ tục hành chính, và de facto, có tiếng nói quyết định.

Ông B không thấy việc viết email hỏi thầy giáo cũ của anh A, những người được trích dẫn trong các công trình khoa học của anh A (nếu có) là cần thiết. Lý do là vì ông B bận lắm, mà viết email chắc gì người ta đã trả lời. Với lại cũng ngại, người ta có biết mình là ai đâu, tự dưng khơi khơi viết thư cho người ta thì ngại chết.

Thế nhưng nếu chịu khó viết thư hỏi thì ông B sẽ biết thực chất trình độ khoa học của anh A như thế nào, trong một vài trường hợp hãn hữu, anh A đã bảo vệ TS chưa?

Nếu khoa của ông B có sẵn một Uỷ ban tuyển dụng theo đúng nghĩa, ông B sẽ không thể đưa việc tuyển dụng anh A ra họp giao ban trước khi có đầy đủ reference check, bất kể ông ấy ngại làm việc ấy hay không.

2) Scandal ở đại học VN thường xuất phát từ những mâu thuẫn nội bộ, từ việc quy hoạch cán bộ … Một số người không thích anh A sẽ tổ chức một chiến dich báo chí để lôi những khuyết điểm của anh A ra công luận. Bất kể những việc anh A làm đúng hay sai, popular justice (đấu tố) luôn bao hàm tính bất công: anh A sẽ phải một mình bảo vệ danh dự của mình trước buá rìu của công luận. Trường X sẽ lúng túng, có bảo vệ anh A không, có bảo vệ ông B không, sẽ trả lời công luận như thế nào. Hay là khó quá, hỏi bộ trưởng vậy?

Nếu trường X có sẵn một số định chế dân chủ để phân xử trường hợp anh A, thì trường sẽ bảo vệ tốt hơn dignity của anh A lẫn của bản thân trường. Đối với một trường hợp khó như thế này, trường X phải có uỷ ban nghiên cứu kỹ về anh A, họp kín để cho phép anh A điều trần, đối chất. Nếu anh A chấp nhận mức độ kỷ luật và cách xử lý mà uỷ ban đưa ra thì câu chuyện dừng ở đây. Nếu anh A cho rằng Uỷ ban không công bằng, anh A có thể đề nghị đưa trường hợp của mình ra Nghị trường giảng viên để đối chất. Dù rằng những việc này vô cùng mệt mỏi và mất thời gian, nhưng đổi lại trường hợp của anh A sẽ được trường X nghiên cứu kỹ và bản thân anh A có cơ hội để điều trần. Nếu chưa đọc, mời các cụ đọc Disgrace của Coetzee cho vui.

3) Nói chung, càng có nhiều định chế, quy tắc, thì càng bất tiện, càng mệt. Nhưng đổi lại, dignity được bảo vệ tốt hơn. Hơi giống câu chuyện an toàn thực phẩm.

4) Những gì trình bày ở đây có liên quan đến kiến nghị số 5 của VED.

Reference:

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/gsts-hoang-van-chau-toi-rat-buon-vi-giang-vien-mao-nhan-la-tien-sy-1067811.htm?mobile=true

http://hocthenao.vn/2015/06/11/phuong-huong-cai-cach-dai-hoc-o-viet-nam-doi-thoai-giao-duc/

Written by thichhoctoan

19/06/2015 at 00:03

Posted in Uncategorized