Thích Học Toán

Archive for the ‘Bạn bè viết’ Category

Em biết cách học

with 35 comments

Phạm Toàn

(Báo cáo tại Hội thảo công bố sách giáo khoa tiểu học 2012 của nhóm Cánh Buồm, ngày 6/10/2012 tại Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội)

Hôm nay tại Hội trưởng này[1], trong vòng bốn năm đây là dịp hội thảo lần thứ tư, lần này nhóm biên soạn sách giáo khoa Cánh Buồm vui mừng báo cáo trước toàn xã hội những cuốn sách tiểu học nhóm đã hoàn thành, bao gồm:

–     Sách Tiếng Việt (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4  lớp 5);
–     Sách Văn (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4  lớp 5);
–     Sách Lối sống (lớp 1, lớp 2, lớp 3);
–     Sách Tiếng Anh (lớp 1, lớp 2);
–     Sách Khoa học và Công nghệ (lớp 1).

Ra đời vào cuối năm 2009[2], đây là những sản phẩm lãng mạn của một nhóm thiện nguyện chưa đến mười thành viên.

Tại sao lại tập hợp nhau để soạn sách giáo khoa tiểu học? Tường trình đầy đủ về việc làm này trước toàn xã hội là điều cần thiết – vì đó là trình ra một hệ thống khái niệm giáo dục đổi mới[3].

1. Làm mẫu

Không chỉ riêng nhóm Cánh Buồm mà cả xã hội, từ các nhà trí thức danh tiếng đến những phụ huynh học sinh bình thường đều chung một nhận định: nền giáo dục nước nhà đang đại khủng hoảng.

Có nhận định cực đoan còn cho rằng nếu không thoát ra được cơn khủng hoảng này, đó sẽ là cuộc tự sát tập thể – ý tưởng quyết liệt này cho rằng Việt Nam đang đứng trước lựa chọn Giáo dục hay là Chết [4].

Tiếc thay, trong khi dư luận xã hội dường như nhất trí coi hiện tình Giáo dục là đại khủng hoảng, thì lại không đạt được sự nhất trí về hướng đi và giải pháp cho một cuộc khủng hoảng đã quá sức chịu đựng. Đọc tiếp »

Advertisements

Written by thichhoctoan

05/04/2013 at 01:20

Posted in Bạn bè viết

Làm người quân tử

with 23 comments

Xếp lại chuyện Trang Châu xếp dép của bạn Cụ Hinh. THT xác nhận chuyện này giống thật.

————–

Tháng ba năm nay trời rạng he nắng đẹp. Trang Châu mời bạn bè lượn lờ nhâm nhi hàng quán ở quê nhà. Đời cũng có lúc thật là bình yên.

Quá ba tuần rượu, chợt Trang Châu hỏi.

-”Cụ Hinh này, thời nay, làm sao mà biết ai nào quân tử, ai nào tiểu nhân?”

-”Cứ ý tôi, xem qua thái độ của họ với món dép.”

-”Món dép gì cơ? Không thấy nó trong thực đơn ạ.”

-”Người quân tử thời xưa, chiếu trải không thẳng, không ngồi. Đã đành.

Người quân tử thời nay, món dép chưa xếp quay ra sẵn sàng. Không yên.”

-”Tôi chưa rõ ý Cụ Hinh à?”

-”Có thế, khi cuộc chuyện trò bỗng dưng chuyển sang kinh động nháo nhào, chuyện thường ngày ở xứ Đông, tiểu nhân chạy, quân tử cũng chạy.

Tiểu nhân chạy mất dép. Quân tử chạy nguyên dép.”

Trang Châu nhìn Cụ Hinh, không nói gì, đoạn quay ra góc chiếu xếp ngay ngắn lại đôi dép của mình hướng ra.

Cụ Hinh cụng ly Trang Châu.

-”Tiên sinh không có gì phải ngại.”

Trang Châu quay sang xung quanh.

-”Anh chị em à.

Khi vào chiếu, của việc gì thì cũng thế thôi, nên biết ‘xếp dép’.

Cho ngay ngắn công chuyện.

Cho thuận tiện lối ra.”

Mọi người sắp xếp dép xong, mới băn khoăn vì không thấy đôi dép của Cụ Hinh.

Trang Châu hỏi.

-”Cụ Hinh chưa chạy, mà đã mất dép, thì là thuộc hạng nào ạ?”

-”Dạ, thuộc loại di tích chưa xếp hạng được ạ.

Vậy đó, bác đánh giày dép dưới nhà đã lại nhanh tay thó lấy đôi dép của tôi để làm việc rồi đây à.”

 

Tan cuộc, mọi người guốc dép ra về, chẳng ai trong số đó tin được rằng câu chuyện “Trang Châu xếp dép” mà chính mình vừa được tham dự là sự thật cả. Trừ có hai nhân vật.

Hai nhân vật Trang Châu và Cụ Hinh bùi ngùi chia tay nhau mãi trên vỉa hè vẫn còn he nắng của thành phố quê hương, và chia sẻ chi li cho nhau sự thật này.

 

 

Written by thichhoctoan

28/03/2013 at 10:45

Posted in Bạn bè viết

Tagged with

Tây ta với nhau

with 14 comments

Bài của Hoàng Hồng Minh, đăng trên Văn Hoá Nghệ An với nhan đề Chuyện Tết Tây Tết Ta, lịch Tây lịch Ta.

*****

Mấy người bạn Việt ở Nhật bữa trước gọi điện thoại chuyện trò. Khi chia tay họ nhắn « có gì đợt nghỉ Tết này sẽ về chơi đấy nhé ». Đúng ngày Noel lại được điện nhắn SMS « tối mai bọn tớ xuống sân bay». Chợt nhớ ra, Tết người Nhật ngày nay là Tết Tây, hoàn toàn, mặc dù trong đời sống thì họ vẫn còn loay hoay vẩn vương chán với món « nam nữ thụ thụ bất thân » ! « Trao nhau, không được gần nhau » ở họ hôm nay dĩ nhiên cũng đã có phần đỡ khe khắt hơn ngày xưa nhiều. « Trao nhau, không được gần nhau » ngày xưa có nghĩa là nếu chàng muốn đưa cho nàng một con châu chấu, thì chàng phải đặt nó lên bàn, rồi lùi lại ra xa, nín thở… để rồi nàng mới tiến lại gần cái bàn đó, rồi bàn tay thon mịn của nàng mới yêu kiều vươn ra phía con châu chấu… khéo đã nhảy tách đi đằng nào.

Nếu câu chuyện đánh đố « trao nhau, không được gần nhau » đã được người Việt giải gần sạch sành sanh, làm hoa mắt người Nhật, thì câu chuyện « ngày Tết chính là Tết Tây » của người Nhật lại làm hoa mắt người Việt xứ ta. Đọc tiếp »

Written by thichhoctoan

13/02/2013 at 22:23

Posted in Bạn bè viết

Tagged with

Đau lòng sổ bụi, những bức thư không gửi

with 8 comments

Bài của Trần Trọng Vũ, đã đăng trên blog Thích Học Toán (cũ).

*****

Năm 1993 tôi  được đọc lần đầu Paul Auster qua bản dịch tiếng Pháp « L’invention de la solitude ». Cuốn tiểu thuyết mang nhiều tự sự, nhật ký và hồi ký. Sau khi cha ông mất, nhà văn trở lại căn hộ nơi gia đình ông đã sống nhiều năm trước, để ngồi lại trong phòng riêng của cha, để nhận ra rằng ông đã không biết gì nhiều về cha ông, để lục tìm những đồ vật cũ, gạn hỏi quá khứ, để hiểu hơn về con người này. Thời ấy, họ sống ngay cạnh nhau, trong cùng một căn hộ, nhưng mỗi người trong phòng của mình, nhưng không có những chia sẻ thân thiết. Vì nỗi cô đơn của mỗi người quá lớn. Cuộc tìm kiếm quá khứ của nhà văn lại kéo dài khoảng cách của họ. Những sự kiện đến từ quá khứ mỗi lúc một thêm cụ thể thì hình ảnh cha ông ngày càng mờ nhạt, đến lúc dường như cha ông chưa bao giờ tồn tại trong cuộc đời của ông.

Năm 1997, bố tôi, nhà thơ Trần Dần mất tại Hà  Nội. Phải đợi nhiều thời gian sau tôi mới cảm thấy sẵn sàng mở lại di cảo của ông. Nhưng không phải với hy vọng được xích lại gần với ông hơn, không phải để hiểu ông hơn. Cũng không phải vì sợ mất ông. Tôi đã không thể xử sự được như trong văn học. Quan hệ chật hẹp của chúng tôi chưa bao giờ sóng gió đã cho phép tôi lựa chọn phần riêng tư nhất trong hàng trăm bản thảo và tình phụ tử nhiều ích kỉ dĩ nhiên đã khiến tôi, một cách tầm thường nhất, chỉ giữ lại những gì liên quan đến con người Trần Dần, và nhà thơ Trần Dần.

Tất cả  những sổ nhật ký của ông đều còn nguyên vẹn, nối liền những năm những tháng, ròng rã từ năm 1954 tới 1989. Nếu như những sổ tay đầu mang đề tựa Ghi vặt, có thể giúp tôi đọc lại được nhật ký của một người bố, một người chồng, một người yêu, thông qua những sự kiện thường nhật  thì từ năm 1973 những sổ nhật ký đã trở thành những sổ thơ và từ năm 1979 là những sổ bụi hoặc vở bụi. Không còn những chuyện đời thường, để có thể đem kể lại cho một ai đó để cung cấp bí mật về các nhân vật có thật hoặc để làm tổn thương danh dự của một vài người. Không còn cách nào khác là phải đọc cuộc đời của ông bằng văn học.

Nhưng một lần nữa tính ích kỉ của lòng hiếu lại cho phép tôi được xếp trả vào di cảo một phần rất lớn của những sổ thơ và sổ bụi này. Đó là khi nhà thơ viết lại những suy nghĩ chồng chéo của ông về một cuốn sách, một đoạn trích, một tác giả, một buổi nói chuyện văn học, một ý kiến triết học hoặc Phật học, hoặc Kinh dịch, trong những phép chính tả của riêng ông, đôi khi trong những ký hiệu thị giác không ai có thể giải mã được.

Tôi chỉ có thể lấy ra những câu thơ hoặc bài thơ nằm rải rác khắp nơi trong ba mươi tư sổ tay-nhật ký văn học của ông, như những hạt bụi trong muôn vàn cơn mưa bụi.

1. TÔI và CHO TÔI

Nếu như  các nhân vật xưng TÔI  của Nhất định thắng, Cổng tỉnh, Bài thơ Việt Bắc , Jờ joạcx, Mùa sạch…có thể gợi ý người đọc liên tưởng tới Trần Dần thì chữ TÔI của các sổ bụi được khẳng định là tác giả khi ông gọi chúng là journal sauvage, là nhật ký anti-tự sự. Phản tự sự không có nghĩa không có tự sự, mà trái lại tự sự là một trong những vị trí trung tâm của nhật ký. Không có tự sự thì làm sao phản được tự sự ?  Nhưng nhật ký theo kiểu Trần Dần lại vượt khỏi mọi giới hạn của tự sự, để trở thành VĂN HỌC. Tự sự bị phản bội bởi chính nhà thơ vì văn học không bao giờ thuộc sở hữu của một người.

Chữ  TÔI của ông, từ sổ thơ đến sổ  bụi, không dùng để làm đối thoại. Những hội thoại văn học được bình lại trong nhật ký thường không có chữ TÔI. Rất khó tìm thấy ở  đây những đại từ nhân xưng mà người Việt  ưa dùng để định vị trí, đẳng cấp của nhau, và để tỏ thái độ với nhau. Khi thuật lại một cuộc nói chuyện ba người dài suốt cả một cuốn sổ thơ (1976) ông bắt đầu thế này:

« Một hôm, vô hại, vô thưởng vô phạt, như mọi hôm vô vị vô mùi:

BÀNG : Có khi cần một travail symbolique ?

ỔI :        Không, không, mọi thiết định ! Không ?

CÁT :    Làm quái gì, travail théorique ?

BÀNG : Ừ, làm quái gì ? …»

(Bàng = Trần Dần. Ổi = Đặng Đình Hưng. Cát = Đoàn Chúc : chú thích của ttv). Không thấy ai xưng danh cả. Và những trang thoại dài như thế đòi được giải mã, chỉ ngay từ những cái tên người. Nhưng tôi không nghĩ tất cả những độc thoại này đều chỉ đơn thuần là những ghi chép? Mà là một hình thức của văn luận? Nếu có chữ TÔI trong những tranh luận này thì đó là những câu trích thơ của ông, lấy lại từ chính những trang khác của nhật ký. TÔI của sổ thơ của sổ bụi là chữ dành riêng cho tự sự, và cho thơ. TÔI không thể đứng chung với một người nào khác. TÔI để báo trước một cá thể cô độc. Có thể dựng lại chân dung và cuộc đời của người xưng TÔI, một cách hoàn chỉnh, từ lúc sinh tới khi chết, thông qua rất nhiều chữ TÔI như thế này:

Tôi chôn rau ở tận trời sao.

(Sổ thơ 1973)

Tôi chẳng phải tù binh quả đất.

(Sổ bụi 1979)

Tôi đã leo nhiều ngõ cụt cổ điển.

(Sổ bụi 1979)

Tôi không bao giờ hú với chó sói, chỉ  một tội này họ chẳng thể tha tôi.

(Sổ bụi 1982)

Chết đi, tôi vẫn mất ngủ.

(Sổ bụi 1988)

TÔI bao giờ cũng ngạo ngễ, đầy khí phách, nhưng cũng không ít mâu thuẫn, không ít dằn vặt, không kém phức tạp. Những cuộc gặp gỡ trong văn chương Việt Nam thường xuyên chỉ cho tôi làm quen với những cái tôi đạo đức như ngọn cỏ, hoặc dễ chịu như một vị anh hùng không có thật. Ít thấy ở đâu có ai dám đặt mình bên cạnh quả đất, vũ trụ, nhân loại, chân trời, cõi chết, vì sao bay, hoặc tồi nhất thì cũng dám đứng gần chó sói, sâu bọ, nhà tù… TÔI của sổ bụi  không bao giờ còn đi cùng một cái tên cụ thể, dù chỉ là một địa chỉ như Tôi ở phố Sinh Từ của năm 1955. Cùng với thời gian phố Sinh Từ đã bước ra khỏi cuộc đời nhà thơ, ra khỏi bản đồ hành chính thành phố Hà Nội, để ba mươi hai năm sau ông viết : Tôi sống ở hai chân trời… một trời hoành đạt, một  trời sao bay ?

Chữ TÔI của sổ bụi thường xuyên được đặt cùng với những yếu tố tích cực, luôn thay đổi, luôn chuyển động, không kích thước: chân trời, chân mây, gió, mưa, các vì sao. Ông đã đến rất nhiều chân trời để biết rằng  mỗi thay đổi chân trời/ một thay đổi nhân sinh, để báo trước « đám ma tôi » : hôm ấy- lã chã sáu chân trời, lã chã sáu chân mây . Và cũng để thú nhận rằng ông  mỗi ngày thay áo mấy chân mây. Và các chân trời cũng đối ngược nhau làm sao. Nếu có một lúc nào đó ông nói: ở một chân trời tôi mở những chân mây,  nếu có một lúc nào đó ông phàn nàn: những giờ phút vắng chân mây ? bao nhiêu lấp hổng không vừa, thì cũng nhiều khi chân trời lại làm ông thất vọng:  bốn cẳng chạy tới chân trời ? không bõ ? không bõ ? vớt về một canh cánh chiêm bao.

Chữ  TÔI có vẻ bất biến, nhưng ở phía sau lúc nào cũng hiện rõ một con người, cũng đau, cũng ốm, cũng buồn, cũng nợ, cũng hy vọng, cũng nổi loạn. Và cái đau ấy, con bệnh ấy không còn nằm trong khuôn khổ những tự sự của người ghi nhật ký, không còn là cái đau vật chất đời thường:

Tôi ốm ở toàn – tôi fố cây đường đèn lúc mưa lá lẩm hoa trời sao và tín hiệu lạ.

(Sổ thơ 1973)

Nhưng đau đau. Tôi lại đau rồi. Zương thế biết không ?

Nhưng nói để làm gì ? tôi chỉ biết đau thôi ?

(Sổ bụi 1982)

Tôi đau ở…

mỗi người là một vụ án ?

mỗi người

chôn

sống – một chân mây ?

(Sổ bụi 1988)

Tôi đau ở…

tôi thồ thơ văn tự xứ này lên.

(Sổ bụi 1988)

Rồi có  một lần, ông nói về hạnh phúc, nhưng không có  chữ TÔI, và bản thân hạnh phúc cũng khó khăn thế nào : Thôi đi những hạnh phúc – quần đùi may sẵn! giầy dép – đóng sẵn! Số ? Cỡ ? Hạnh phúc chẳng mua ở công ti-may mặc-sẵn ? những  si lip sách chẳng vừa…cóoc sê jáo khoa ca mà thịt hở…  (Sổ thơ kể kệ 1976) Hoặc những phút hiếm hoi như thế này cũng được kể lại theo cách viết rất riêng của ông :

« Tôi có nghèo đâu, trăng sao lủng liểng. Mây phơi dằng dặc khắp chân trời. Hương hỏa của tôi, kho nào chứa xuể ? Ê hề vũ trụ sao bay. Tôi di lại cho ai giờ ? Tầng tầng mây, lục địa lục địa của cải »

(Sổ bụi 1979)

Nhưng có  khi TÔI trở thành CHO TÔI. Cặp quan hệ « tôi cho ai » và « ai cho tôi » có mặt trong thơ ông từ thời Cổng tỉnh, chẳng bao giờ được trả lời. CHO TÔI thực ra là cái vô lý mà trong đó TÔI không thể hiểu được, là cái không thể mà TÔI khao khát, là những tình thế mà TÔI không thấy lối ra. Nếu như TÔI có mặt thường trực suốt cuộc đời thơ của ông, thì CHO TÔI lại chỉ tập trung ở những thời gian nhất định, có vắng bóng, có hội ngộ:

Sao lại cho tôi quê cháo lú. quên cha quên mẹ. quên ngày hội. quên chạm ngõ. cưới xin. chôn cất. tang chồng không để. để tang xô.

Cho tôi về dưới Tía. cả ngày chong bóng xế. cho tôi về quá Mễ. tào lao giấc trắng phèo phèo.

Sao lại cho tôi nhiều xương sống thế ? trước quyền không biết lom khom ?

(Sổ bụi 1979)

Ai xuất tiền mặt cho tôi ?

(Sổ bụi 1982)

Cho tôi ngồi fố khói ? ga khói của lòng? bướm khói liệng sân ga ?

(Sổ bụi 1989)

Chữ  TÔI kiểm điểm bản thân cùng một thời đại buồn rầu của Cổng tỉnh năm 1960 đến những sổ bụi không còn xếp cùng với thời đại của ông nữa. TÔI những năm tám mươi từ chối bên ngoài :

Nhân loại- tôi không chơi với các anh nữa

Ván nào anh cũng ăn jan…

(Sổ bụi 1982)

Biết bao nhóm chữ TÔI KHÔNG này được sử dụng để TÔI được quay về với TÔI. Nếu quan hệ TÔI và TÔI còn nhiều hoài nghi trong Cổng tỉnh khi ông viết tôi có tôi làm gì, thì tới những sổ bụi cuối quan hệ này lại có vẻ êm đềm hơn :

Tôi rủ tôi đi vào cửa khó

dễ ăn, dễ ngủ

siêu lạm phát

động vật dễ dàng…

(Sổ bụi 1987)

Tôi bước lặng bên tôi

không một hai- mà vẫn bước đều

cho đến lúc- say nâu

Tôi rẽ vào fố lặng.

(Sổ bụi 1988)

Người đọc cũng có thể hiểu được rằng con đường từ TÔI đến TÔI đâu phải chỉ khép lại trong cô đơn, mà là kết quả của rất nhiều năm lao động: Từ tôi tới mình? vạn lí trường chinh..? mấy ai đi hết lữ trình? nửa đường rơi rụng sinh linh? (Sổ bụi 1987). Người đọc cũng có thể được lý giải vì sao chữ TÔI của thơ mini 1988 vừa khoẻ mạnh, vừa đau đớn, lại vừa kiêu hãnh, đến ấm lòng:

Tôi khóc những chân trời không có người bay

Lại khóc những người bay không có chân trời

Có thể  đây là một trong những lý do vì sao những bài thơ ngắn và cực ngắn , bắt đầu từ  các sổ thơ 1973 đôi khi chỉ được đánh số thứ tự, phần nhiều chỉ được gọi là những bài « thơ lẻ », phải đợi đến năm 1988 những bài thơ ngắn mới được gọi là « thơ mini ».

2. THƠ  và KHÁCH THƠ

Khi đọc bố tôi viết tác phẩm là bản gốc, đời là bản sao (Sổ bụi 1988) tôi đã cho rằng hai mươi ba năm sống cạnh ông tôi mới chỉ học thuộc bản sao của ông. Bản sao này cũng không trọn vẹn. Tôi không được ở cùng bố tôi tám năm cuối của ông. Sau khi ông mất, bản sao này dần dần được thay thế bằng một cái gì khác, một cái gì mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn không dám khẳng định có phải là THƠ của ông, là di cảo của ông. Tôi vẫn muốn làm sao giữ lại được bản sao ấy, dù chỉ là bản sao, dù nó không hoàn thiện.

Nhưng nếu cuộc đời ông đã được ông đem tặng cho THƠ? Nhưng nếu cuộc đời ông chính là một tác phẩm không được viết?

Tuy nhiên tôi không muốn băn khoăn tìm hiểu vì lý do gì  cuộc sống gia đình và những thăng trầm của xã hội không được tham gia trực tiếp vào nhật ký của ông từ 1973. Ông còn có một mối nợ khác vô cùng riêng tư, mối nợ vẫn đi theo ông từ Bài thơ Việt Bắc, từ Nhất định thắng, từ Cổng tỉnh:

Tôi như có lời hứa chưa xong. Có lời nguyền chưa trọn. Có câu thề còn trăn trở nơi tim- thơ là trò rồ của những kẻ như tôi.

(Sổ thơ 1976)

Thơ là thuốc chữa cho ta, bệnh sống.

Chẳng bệnh gì đâu, chỉ mỗi bệnh sống. Không thơ, lấy jì chữa chạy júp dùm ta ?

(Sổ thơ 1975)

Thơ với tôi như tôn giáo không nhà thờ, không giáo chủ, chẳng tăng sư. Tôi vẫn chốt ở đền Bay-on chữ. Thơ là mạng sống, là lý lịch thật đời tôi.

(Sổ bụi 1988)

Mối nợ  của ông là THƠ. Mặc dù TÔI của sổ thơ sổ bụi đã được ông đem tặng hết cho THƠ vẫn có những lúc ngắn ngủi THƠ tách ra khỏi TÔI cũng giống như tạm xếp lại những tình bạn tuy thắm thiết nhưng lại ít dễ chịu của họ,. Những lúc ấy ông hiểu rằng: Thơ vì thơ, tuyệt đối. Hễ vì bất cứ gì khác, dù cao quý mấy, thơ sẽ chẳng còn là thơ. Vì vậy, thơ khôn thể vì chim gái chẳng hạn. Những thơ tình, thơ chính trị, bất kì tính từ nào, đều vô nghĩa, với tôi. (Sổ bụi 1988). Và THƠ không có TÔI lập tức vứt bỏ mọi ràng buộc và giới hạn, của ngôn từ và kích cỡ, được nhà thơ chiêm ngưỡng từ xa, vô cùng say sưa :

Thơ là cái thăm thẳm.

(Sổ bụi 1988)

Có một vùng thơ tên gọi không lời.

(Sổ bụi 1988)

Vùng mù…vùng tổ của vùng thơ.

(Sổ bụi 1984)

Tuy nhiên, việc phi thường chờ người phi thường, có nhà thơ mới có thơ (Sổ bụi 1984), nhà thơ được ông gọi là người thơ, thi sĩ… và khách thơ. KHÁCH THƠ mang nhiều trùng lập với con người Trần Dần, cả hai cùng bị lạc tới quả đất, và ông quan sát KHÁCH THƠ với nhiều thương xót. Bản thân ông là người chôn rau ở tận trời sao, bản thân ông còn xa lạ quá quả đất, để có thể cảm thông với vị khách lạc, để nói nhưng không rõ với ai:

Khách thơ chẳng thích gì quả đất. Anh lạc hành tinh rồi ! Tội nghiệp !

(Sổ thơ 1975)

Trong cùng một sổ thơ, ông gặp những con đường cũng biết ước mơ, gặp một sân ga im lặng trắng, gặp những vì sao biết là áy náy hộ vì ai, gặp khách thơ nhưng không bao giờ, và bao giờ, khách thơ có chỗ, ở trong huyên náo địa dư-người. Ông trách : Trăng Á mặt trời Âu đều chẳng chiếu. Vào chỗ nào là chỗ khách thơ đau. Trong những sổ thơ và sổ bụi sau này không thấy KHÁCH THƠ quay trở lại quả đất nữa. KHÁCH THƠ giống như một cuộc viếng thăm không lời, đến từ một vùng thơ không lời,  và vội vàng khép lại.

Chỉ  có Trần Dần, và nhà thơ, và người thơ… vẫn còn đấy. Hình ảnh KHÁCH THƠ tội nghiệp  được thay thế bằng những nhà thơ ở lại trần thế, mạnh mẽ hơn, những nhà thơ bao giờ cũng mơ trên sức người, ngoài khả năng người, vượt điều kiện người (Sổ bụi 1984). Bốn năm sau khi gặp KHÁCH THƠ ông viết :

Thi sĩ là gì ? người chết hai buông tay vẫn ằm ặp đầy sao.

Và một năm sau nữa :

Tắt thở… tay ăm ắp đầy sao ? người ấy không chết.

Đến thời gian làm thơ mini 1988 nhà thơ của ông có lúc không còn mang bóng dáng của người khách thơ im lặng và thi sĩ đầy khát vọng, mà gai góc khó chịu:  Mỗi nhà thơ mang một địa ngục. không ai người chung sống nổi với nhà thơ . Nhưng nhiều khi nhà thơ ấy lại đời thường biết bao, và ngay cái đời thường lại nghịch lý đến tầm thường. Tôi không thể mỉm cười được trước những bông hoa không được rắc nước hoa, bởi bài thơ chính là quan niệm của ông về THƠ và NHÀ THƠ:

người thơ

không rắc nước hoa

lên những bông hoa mình trồng.

Còn con người Trần Dần, nhân vật TÔI, có thể thu xếp cho ông một cuộc sống hoà thuận với nhà thơ ở trong ông ? Cả hai thực ra cùng chia sẻ một số phận, cùng sống ngoài rìa xã hội, cùng không chấp nhận và không được chấp nhận, bởi cả bản thân và xã hội. Cả hai cùng chung một sứ mệnh THƠ, làm sao để xây một tập thơ là phá một nhà tù (Sổ thơ 1974). Và phải chăng tất cả họ, nhà thơ, người thơ, thi sĩ, khách thơ, và nhân vật tôi đều mang một cái tên Trần Dần ? Đều là Trần Dần ở những giây phút khác nhau, hy vọng hoặc thất vọng, yếu đuối hay lạc quan, dù chỉ là lạc quan đen ? Bi kịch lớn bắt đầu khi con người TÔI của ông một lúc nào đó cũng đã hoá thân thành nhà thơ ?

3. CHỮ  và NGHĨA. BÊN NÀY và  BÊN KIA

Không phải ngẫu nhiên mà thói quen người đời trong khẩu ngữ  đặt CHỮ lên trước NGHĨA, BÊN NÀY rồi mới đến BÊN KIA. Khái niệm về khoảng cách địa lý không gây nhiều tranh cãi, vì sự hợp lý ở đây hoàn toàn có thể cụ thể hoá được. Lẽ đương nhiên là gần rồi mới đến xa. Thứ tự này là bất biến, không thể phủ nhận. Nhưng khi bước vào lĩnh vực nghệ thuật thói quen định vị của CHỮ và NGHĨA lại thường xuyên bị nhầm lẫn, thứ tự của chúng luôn bị xáo trộn, ở mọi thời, mọi nền văn hoá. Công chúng khi đứng trước một tác phẩm hội hoạ thường đòi hiểu ngay lập tức cái này muốn nói gì, khi nghe một bài hát thường phàn nàn không nghe được hết lời, khi đọc văn học thường chỉ đọc NGHĨA mà quên CHỮ, hoặc khá hơn một chút thì đặt NGHĨA lên trước CHỮ.

Ngay trong hàng ngũ những người làm nghệ thuật và phê  bình nghệ thuật quan hệ CHỮ và NGHĨA này cũng quay tròn như chong chóng gặp gió, gió chiều nào quay chiều ấy. Chưa kể đến những thoả hiệp giữa họ và công chúng. Thử mở những bài giới thiệu bình luận tác phẩm, NGHĨA bao giờ cũng được phóng to nhiều lần, dễ giải thích hơn, và cũng dễ hiểu hơn.

Thói xấu này trở nên quá phổ biến, đến mức đối với phần đông đọc NGHĨA không có CHỮ là một tập quán, tệ hơn nữa là một nguyên tắc bất di bất dịch. Đến mức chỉ cần đề nghị thiết lập lại vị trí của CHỮ và NGHĨA theo đúng như trong thói quen nói, không hề là một phát hiện thông minh nào, đã sánh ngang được một cuộc cách tân lớn.

Khi Trần Dần viết : « Đố ai chọc mắt các vì sao» (Sổ thơ 1976), một người khác cũng có thể viết : « Tôi đố anh nào có đủ dũng cảm có đủ khả năng đủ tài năng đủ phương tiện để trèo lên được tận các vì sao để tắt chúng đi đấy ! ». Câu thứ hai đủ ý đủ nghĩa, rõ ràng mạch lạc, nhưng lại đóng cửa mọi tưởng tượng, và mất hết mọi sức mạnh.

Khi ông viết : « Họ cứ vu oan mặt trời ngủ » (Sổ thơ 1976), tôi không thể hình dung được ai đấy có thể viết nổi câu văn thứ hai có thể mang cùng một nghĩa. Câu thơ quá đơn sơ, CHỮ nào cũng dễ hiểu, mà toàn bộ câu thơ lại mở ra rất nhiều NGHĨA, rất nhiều liên tưởng, hình ảnh, âm thanh. Câu thơ có vẻ dễ làm, nhưng không thể thêm hoặc bớt CHỮ của nó, không thể thay đổi chỗ của chúng. Và trên hết, câu thơ là một kinh ngạc. Một kinh ngạc lại chứa nhiều kinh ngạc khác. Từ họ đến mặt trời, từ mặt trời đến mặt trời ngủ, từ vu oan mặt trờiđến vu oan mặt trời ngủ…và mặt trời ngủ rõ ràng là một hình ảnh thị giác. Tôi cứ hình dung thấy một mặt trời vàng vô cùng oai vệ nằm ngủ như một con người, thế thôi, chẳng mộng mị, chẳng lo lắng. Nhưng tôi đã bị lừa, hình ảnh của tôi chỉ là ảo ảnh, vì biết đâu mặt trời lại không ngủ, ông bị vu oan.

Người nhiều tưởng tượng hơn có thể đi từ câu thơ  đến những thân phận người, những số phận oan nghiệt. Người nhiều khả năng tổng hợp hơn có thể nghĩ đến những đám đông lười suy nghĩ, vẫn lười suy nghĩ. Nhưng họ không biết rằng chính những con CHỮ này đã cho họ ham muốn được tiếp tục giải nghĩa những gì còn giấu đằng sau câu thơ. « Biển giấu sâu. Trời giấu rộng. Chữ giấu nghĩa » (Sổ thơ 1976) là như vậy.

Nhưng tôi không có ý định giữ CHỮ của sổ  bụi ở lại BÊN NÀY, để NGHĨA của thơ được gửi sang BÊN KIA mặc dù có lúc ông viết : đừng viết cái gì không rơm rớm bên kia , mặc dù  bên kia ? ai rồi cũng đến – bên này ? ai rồi cũng qua (Sổ bụi 1983). Tôi không đề nghị độc giả đi tìm biên giới của CHỮ và NGHĨA như có thể lấy phấn trắng mà phân chia địa phận của BÊN NÀY với BÊN KIA.

Thực ra BÊN NÀY và BÊN KIA của những sổ nhật ký không được Trần Dần sử dụng cho không gian hoặc địa lý. Nhưng tôi xin được đặt chúng song song với cõi sống và cõi chết.

Khi viết về sự sống và sự chết ông đặt chúng vào một quan hệ, như gửi với về, như dụng và thể, như tử số và mẫu số. BÊN NÀY và BÊN KIA được nhà thơ thường xuyên đến thăm. Nhưng với hai thái độ :

Đối với BÊN NÀY :

Sống ? Eo ôi sống ?

Xưa nay. Từ sống mấy ai về?

(Sổ bụi 1988)

Còn với BÊN KIA:

Càng chết tôi càng – bất tử

Eo ôi

Chết vẫn không yên.

(Sổ bụi 1988)

Cả hai bài thơ mini đều dùng chữ Eo ôi, nhưng nếu Eo ôi đầu, mắc kẹt giữa hai chữ sống, có vẻ đi nhanh hơn thì Eo ôi sau, rơi vào trong khoảng trống, lại kéo dài hơn. Chữ thứ nhất vừa đi kèm chữsống, vừa từ chối chữ sống. Chữ thứ hai không dành cho chết, mà cho chữ bất tử. Cả hai bài đều được viết để từ xoá từ, câu bác câu, lưỡng nghĩa đè lưỡng nghĩa. “Sống mấy ai về” là cả một vô lý và ngược đời. Người ta hay nói: Từ chết mấy ai về, cũng hay an ủi: Chết là yên thân. Người đời cũng mấy ai không thích bất tử? Còn nhà thơ, ông kinh tởm sự sống lẫn sự bất tử, chứ không hề sợ cái chết. Hai bài thơ quá ngắn nhưng chứa rất nhiều suy nghĩ và ôm trọn cả cuộc đời của ông, và nhà thơ ở trong ông. Những con CHỮ của Trần Dần như vậy phải là những từ cô đọng đến tối đa, nhưng đồng thời phải đem về cái ngạc nhiên, cái nghịch lý, cái phủ nhận, phủ nhận ngay cả những gì ông vừa mới viết, chứ không thể là những mỹ từ. CHỮ nào vào tay ông đều trở thành THƠ. Ông chủ trương con CHỮ tự nó làm NGHĨA. Nhiều người, kể cả bạn bè ông, sau này luôn nói về CON CHỮ, nhưng phần đông lại đưa ra những so sánh lạc đề, đại loại như: những con chữ lấp lánh trong tay ông, những con chữ giống như đàn gà con chiêm chiếp gọi mẹ, theo tôi là xuyên tạc Trần Dần.

Lại vẫn  để nói về BÊN NÀY và BÊN KIA, nhưng bắt  đầu từ chữ bằng lòng. Đây là bài thơ ngắn được lấp đầy bởi năm lần bằng lòng:

bằng lòng sống – bằng lòng quả đất? bằng lòng làm chiếc lá – heo may.

bằng lòng chết? không bằng lòng hết. Ôi chiếc lá vàng trong bát ngát càn khôn.

(Sổ bụi 1987)

Năm lần không lần nào giống lần nào, nhờ vào năm vị  trí khác nhau. Sự sống được giải nghĩa là quả đấtquả đất trở về chiếc lá trong gió đông. Chữ bằng lòng do vậy cứ nhỏ dần lại, nhưng thêm cụ thể hơn. Giống như ba chiếc hộp lồng nhau nhưng chữ bằng lòng thứ ba lại tiêu diệt những hoài bão lớn ban đầu. Sự sống nhỏ lại thành chiếc lá heo may.

Chữ  bằng lòng thứ tư là một nghi vấn. Chữ thứ năm bị phủ nhận. Rồi quá bất ngờ, ngay sau chữ hết, không gian được mở rộng đến nao lòng. Chiếc lá mùa đông được mang mầu vàng, được đặt trong cõi vô cùng, được nhà thơ chiêm ngưỡng đến độ phải bật thốt lên thán phục. Chiếc lá của BÊN NÀY và BÊN KIA mới khác nhau làm sao! Và cõi bát ngát càn khôn có lẽ chính là vùng thơ thăm thẳm ngày nào?

Cho nên BÊN NÀY và BÊN KIA không chỉ đơn thuần như tôi muốn giải nghĩa là hai thế giới sống và chết, mà chính là hai vùng thơ, một vùng đầy nguy hiểm, một vùng làm ông thương nhớ khôn nguôi. Tôi chỉ mong sao có được tấm hộ chiếu đưa tôi vào vùng thơ của nhà thơ. Để không còn bỡ ngỡ day dứt khi đọc trong sổ bụi của ông: Sống tới hôm nay, bỗng nhớ quê. Sực nhớ. Day dứt nhớ bên kia. Nơi chẳng đồng hồ không số lượng. Để không còn băn khoăn với câu hỏi của ông: Bất tử làm gì? nếu phải mãi mãi sống đìu hiu. Để có thể yên tâm được như ông: Hãy đắm đuối đi vào bóng tối.

4. Sổ  bụi CUỐI

Tôi đã không tự hỏi, khi lục tìm di cảo, đâu là những dòng viết cuối của bố tôi? Tôi đã bắt đầu bằng những tác phẩm nằm, là những trường ca, những tập thơ đã hoàn chỉnh, những tiểu thuyết, tranh vẽ và thơ vẽ không có lời mà ông gọi là Thơ cơ bản, rồi những tập thơ có lời mà ông lại gọi là Thơ không lời. Bốn năm sau khi ông mất, tôi mới đọc những sổ thơ và sổ bụi. Tôi nghĩ đã thu xếp cho mình đủ bình tĩnh để đọc nhật ký của người khác. Tôi đã đọc ba mươi tư sổ tay, không theo trình tự, không hiểu hết, không nhớ hết, và không biết tôi đã đọc những dòng viết cuối của ông từ lúc nào.

Tôi đã không thể tưởng tượng được nhật ký của  đời ông chấm hết vào đúng quãng thời gian tôi rời xa Hà Nội, cuối năm 1989. Tôi không muốn nghĩ rằng cuộc ra đi khốn đốn và nhục nhã của tôi  đã làm kiệt sức toàn bộ căn nhà năm người của chúng tôi, đã khiến bố tôi phải tự xếp cánh lại, không muốn bay nữa. Tôi không có đủ thiên hướng văn học để có thể gạn hỏi quá khứ, hoặc không đủ cô đơn để lùi ra xa khỏi cuộc đời bố tôi như Paul Auster đã bỏ trốn vào “L’invention de la solitude”.

Tôi đã không tìm được những trang viết sau 1989.

Năm 1987, cùng với thời đổi mới phát động bởi tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, với những hứa hẹn của hội nhà văn, với sự phục hồi hội tịch cho những nhà văn bị bỏ ra khỏi làng văn chính thống ba mươi năm trước, ông vào Huế và Sài Gòn. Những sổ bụi 1987, 1988 này tràn đầy thơ mini và chỉ dẫn thơ, với muôn vàn chân trời, chân mây. Nhưng rất nhanh, ông đã hiểu không có đổi mới nào cả. Và Sài Gòn mà ông đã xa cách từ năm mươi năm, giờ mới gặp lại, không đủ cho ông. Sau tất cả những sự kiện này ông trở về Hà Nội. Đây là quãng thời gian ông viết: bốn cẳng chạy tới chân trời? không bõ? không bõ? vớt về một canh cánh chiêm bao.

Năm 1989 bắt  đầu, và thật kỳ lạ, đây là trang sổ  bụi duy nhất có ghi ngày tháng, nằm lẫn vào trong những trang cuối của sổ bụi 1988:

“Ngày 23 tháng 1 năm 89, tức ngày mùng 10 Chạp Thìn.

Dương đã 89. Âm vẫn chửa sang trang Kỷ Tị. thời gian châu  Á vẫn tiêu sâm…

Tôi chẳng muốn mang sang gì cả. Nỗi buồn ga cuối còn nguyên”.

Sổ 1988 hết trang, ông sang sổ mới. Đây mới là cuốn nhật ký cuối cùng của ông, sổ bụi 1989. Ông bắt đầu như thế này:

Canh bạc giao thừa – thua cũng được?

đời

đau – thi

cách rõ ràng…

Rồi có  những bài thơ mini:

Tia mắt chiêm bao ngạt ngào quanh thế. Người về bang cũ có buồn không?

Cố nhân bang mới buồn như khói? Tấm lòng ga cuối lặng như đêm.

ngã ba đen? ngã ba đen?

sự vật không đèn?

ai khóc?

ngã ba tim?

Và rất nhiều chữ CUỐI, chưa bao giờ cùng tụ tập lại như thế này:

    • hoa soi? hoa sói. hoa sòi. hoa khói ? ga cuối của lòng.
    • tim cuối? hai bàn chân cuối?
    • “Đây rồi phố cuối – khóc đi thôi”
    • tuổi cuối?
    • hai bàn chân cuối vẫn ra đi
    • xá gì  khi khói – cuối đã bay đi?
    • mây cuối của lòng?
    • con mắt cuối vẫn chong chong?
    • tuổi cuối?
    • ga cuối của lòng
    • nghe hát thương hoa…

Ở một trang khác, là chính ông đứng chống gậy ngoài phố. Ngoài ngã ba phố hay ngã ba tim? Đây chính là hình ảnh ông mà ai đã biết ông đều nhận ra. Đây cũng chính là một ông già tập tễnh trong mắt người đời, trong con mắt trẻ con, bị trẻ con trêu. Không thể đọc một cách bình thản được:

“ngã ba tim. từ ngã ba tuổi. từ đèn ngã ba? – ông già hoè? ông koè? tôi iêu ông già hoè?

không iêu  ông già koè? – tôi iêu ông jà koè! tôi iêu ông jà hoè!”

Nhưng rồi những day dứt của ông lại nhanh chóng nhường chỗ  cho một mùa thu rất xanh và một cơn mưa mà ông đã gặp từ hồi Nhất định thắng, từ hồi Cổng tỉnh:

“cho tôi ngồi fố khói? ga khói của lòng? bướm khói liệng sân ga? tầu khói. chung nhau màu tuổi khói? đâu dè mắt khói chiêm bao. mây bay? chung đôi ngồi kể khói? mưa rất xưa mà thu rất xanh. mắt khói thế này. mắt khói để cho ai?”

Tôi không cho rằng một mùa thu rất xanh có thể đóng lại toàn bộ những sáng tác của ông. Tôi vẫn biết không bao giờ ông bằng lòng với những gì ông đã làm. Không hiếm khi ông đã tự trách mình: tuổi 60 rồi? không viết nổi một câu thơ? Anh 60 rồi chẳng có quê? Cho dù đối với ông ghi trở nên một hình phạt (1958) ông vẫn tiếp tục viết những bức thư không gửi cho những sổ tay, những đau lòng sổ bụi. Phải lâu lắm tôi mới tìm lại được trong sổ bụi 1988, khi ông nói về thơ mini, những dòng chữ sau: tôi thích viết cái chưa biết, mặc các ông viết cái đã biết. 90 có hoàn thành không? có thành công không để mà đốt đi? Tôi đã đốt tôi đi không phải chỉ đôi lần… cái chưa biết –cái khó -thậm chí cái bất khả thu hút và đắm đuối tôi. Dấu vết nhỏ bé này đã cho phép tôi đặt câu hỏi có phải ông đã tự chuẩn bị cho mình ngày đóng cửa bốn mươi sáu năm ghi nhật ký từ một năm trước? Có phải những năm sau 89, ông đã không còn muốn nhẩy qua bóng của mình? Có phải ông đã có linh cảm không lành về cái mới, về bệnh tật sẽ cướp đi trí nhớ và sự minh mẫn của ông năm năm cuối  đời ? Có phải ông đã huỷ toàn bộ phần sau của sổ bụi để tay không mà đi sang BÊN KIA. Như ông vẫn nói: Tôi chẳng muốn mang sang gì cả. Nỗi buồn ga cuối còn nguyên.

Paris tháng 4 năm 2003

Written by thichhoctoan

13/09/2012 at 11:15

Posted in Bạn bè viết

Chân dung của người đàn ông tàng hình

with 22 comments

Đây là bản dịch mấy trang đầu trong cuốn The invention of solitude của Paul Auster. Người dịch Ngô Thị Thuận.

*****

Đi tìm sự thật, bạn hãy chuẩn bị đối mặt với những gì không mong đợi, vì sự thật đã khó thấy, lại còn khó hiểu khi bạn tìm ra nó. Heraclitus

Hôm đó anh còn sống. Một người vẫn ở trong trạng thái sức khoẻ tốt nhất, chưa già, cũng chẳng có bệnh tật gì. Mọi sự vốn thế, và tưởng như sẽ như thế mãi. Từ ngày này qua ngày khác, anh chỉ chú tâm đến công việc của mình, rồi mơ về phần của cuộc sống còn đang ở phía trước. Rồi bỗng nhiên anh lăn ra chết. Khẽ thở dài, gục xuống trong cái ghế đang ngồi, thế là chết. Cái chết đến đột ngột không dành lại dù chỉ một chỗ trống cho suy tư, không để lại dù là một cơ hội để lý trí tìm ra một lời an ủi cho chính mình. Không còn gì khác ngoài cái chết, và cái thực tế bất khả qui rằng bản thân chúng ta cũng sẽ chết. Ta có thể cam chịu cái chết xảy ra sau một thời gian bệnh tật kéo dài. Đối với cái chết do tai nạn, ta cũng còn có thể đổ cho số phận. Nhưng một người chết mà không có lý do hiển nhiên, một người chết chỉ đơn giản vì anh ta là người, kéo ta đến gần tới biên giới vô hình giữa cuộc sống và cái chết, gần đến nỗi ta không còn biết mình đang đứng ở bên nào nữa. Cuộc sống trở thành cái chết cứ như là cái chết đã sở hữu cuộc sống ngay từ đầu. Cái chết không được báo trước. Có nghĩa là cuộc sống đã dừng lại, vậy thôi. Và nó có thể dừng lại vào bất kỳ lúc nào.

Tôi biết tin bố chết từ ba tuần trước. Đấy là một buổi sáng chủ nhật, tôi chuẩn bị bữa sáng cùng với cậu con trai nhỏ, Daniel. Ở tầng trên, vợ tôi vẫn nằm trong giường, ấm áp dưới tấm chăn nhồi bông, tận hưởng vài giờ ngủ nướng. Mùa đông ở làng quê là thế giới của sự im lặng, của củi và khói, và của màu trắng. Trong đầu tôi còn ngổn ngang đoạn văn viết dở đêm trước, chỉ thầm mong đến chiều để có thể quay lại với công việc. Lúc đó điện thoại đổ chuông. Biết ngay là có chuyện không lành. Chẳng có ai gọi điện thoại vào tám giờ sáng chủ nhật trừ khi họ phải thông báo một cái tin gì đó không thể chờ được. Tin không thể chờ được bao giờ cũng là tin dữ.

Tôi không điểm danh được dù chỉ một ý nghĩ sáng sủa.

Ngay trước khi gói ghém đồ đạc chuẩn bị cho ba giờ lái xe đi New Jersey, tôi đã biết mình sẽ phải viết về bố. Tôi không có dự định gì cả, không hiểu chính xác về ý nghĩa của việc đó. Tôi thậm chí không còn nhớ là mình đã quyết định làm thế. Chỉ đơn giản là có cái nghĩa vụ đó, nó áp đặt lên tôi, kể từ thời điểm tôi được báo tin. Tôi nghĩ rằng bố đi rồi. Nếu bây giờ không hành động nhanh thì cả cuộc đời ông sẽ biến đi cùng với ông.

Bây giờ nhìn lại, thậm chí từ một khoảng cách vẻn vẹn là ba tuần, tôi nhận thấy đây là một quyết định khá là kỳ quặc. Tôi tưởng rằng cái chết sẽ làm tôi tê liệt, bất động trong sự đau khổ. Nhưng bây giờ khi nó đã xảy ra, tôi không nhỏ được một giọt nước mắt, tôi cũng chẳng hề có cảm giác thế giới sụp đổ xung quanh mình. Một cách kỳ lạ nào đó, tôi đã tự chuẩn bị rất tốt để chấp nhận cái chết của bố. Cái làm tôi rối trí hơn lại là một cái gì đó khác, một cái không liên quan gì đến cái chết hay tôi trả lời gì với cái chết, mà là tôi nhận ra rằng bố đã ra đi mà không để lại dấu vết.

Bố tôi không có vợ, không có gia đình phụ thuộc vào ông, không có ai mà cuộc sống phải bị xáo trộn bởi cái chết của ông. Có lẽ có một vài người bạn tản mát đâu đó sẽ bị sốc giây lát, vào lúc mà tính thất thường của cái chết chợt làm họ sực tỉnh ít nhiều, sốc bởi mất đi một người bạn, nhưng gian đoạn phiền muộn sẽ kéo dài không lâu, và rồi thì sẽ không có gì nữa cả. Cuối cùng thì mọi việc sẽ diễn ra y như là bố tôi chưa bao giờ từng sống.

Ngay cả lúc chưa chết, ông đã là người vắng mặt, từ lâu những người gần gũi ông đã học được cách chấp nhận sự vắng mặt như là một phầm chất căn bản của con người ông. Bây giờ khi ông đi rồi, không có mấy khó khăn để thiên hạ tiếp nhận thực tế ông đã ra đi mãi mãi. Cái cách ông sống đã chuẩn bị cho thiên hạ chấp nhận cái chết của ông, như một dạng chết được dự báo, và nếu ông có được người ta nhớ tới thì cũng chỉ nhạt nhoà, không hơn nhạt nhoà là bao.

Ông không hề có đam mê, với ngoại vật hay với con người, cũng chả mê ý tưởng. Không có khả năng hoặc không muốn bộc lộ mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ông tự thu xếp cho mình một khoảng cách với cuộc sống, để tránh phải nhúng mình vào trong sự sinh động của ngoại vật. Ông ăn, ông đi làm, ông có bạn, ông chơi tennis, và với cả ngần ấy thứ ông vẫn không hề có mặt. Theo cái nghĩa bất di bất dịch nhất, sâu thẳm nhất, ông là một người tàng hình. Tàng hình với người khác, và có vẻ đúng nhất là tàng hình với cả chính mình. Nếu như khi ông còn sống, tôi đã luôn đi tìm ông, cố tìm người cha vắng mặt, đến bây giờ khi ông đã chết, tôi vẫn cảm thấy tôi vẫn phải tiếp tục đi tìm ông. Cái chết không làm thay đổi cái gì cả. Cái khác duy nhất là thời gian của tôi đã hết.

Trong vòng mười lăm năm, ông sống một mình. Nhẫn nại, mờ đục, dường như miễn nhiễm với ngoại vật. Ông không giống như người chiếm một khoảng không gian, mà y như là một khoảng không gian không thể xuyên thủng, có hình người. Ngoại vật đập vào ông, vỡ tan khi đụng vào ông, đôi lúc dính vào, nhưng không xuyên qua được. Trong vòng mười lăm năm, ông lủi thủi trong một căn ngoại cỡ, một mình tự làm mọi việc, rồi chết ở trong căn nhà đó.

Trong một thời gian ngắn, chúng tôi đã cùng sống trong căn nhà đó giống như một gia đình bao gồm bố, mẹ, em gái tôi và tôi. Sau khi bố mẹ ly dị, mọi người phân tán, mẹ bắt đầu một cuộc sống mới, tôi đi học đại học, em gái ở với mẹ cho đến lúc cô ấy cũng đi học. Chỉ có bố là ở lại. Vì có một điều khoản trong thoả thuận ly dị quy định rằng mẹ sẽ sở hữu một phần của cái nhà và được chia một nửa số tiền thu được nếu bán nhà (vì thế mà bố không muốn bán), hoặc tựa như một cách từ chối thầm lặng đối với mọi thay đổi trong cuộc sống (như để chỉ ra cho thiên hạ thấy rằng việc ly dị không hề ảnh hưởng đến ông theo cái cách mà ông không kiểm soát được), hoặc chỉ đơn giản vì quán tính, như một trạng thái xúc cảm hôn mê ngăn ông trong mọi hành động, cho nên ông vẫn ở đó, một mình trong ngôi nhà đáng ra có thể chứa tới sáu, bảy người.

Đó là một chỗ ở ấn tượng: cổ kính, kiên cố, theo kiểu Tudor, có cửa sổ khung chì, có mái làm bằng đá phiến, có những căn phòng với kích thước vương giả. Tậu căn nhà này là một bước đi lớn của bố mẹ, là dấu hiệu của sự phát tài. Nó nằm trong khu phố tốt nhất của thành phố, dầu không hẳn là một nơi dễ chịu cho sinh hoạt (nhất là cho trẻ con), nhưng vẻ oai vệ làm át đi vẻ tang tóc của nó. Thực tế cho thấy cuối cùng thì ông cũng đã sống phần còn lại của đời mình trong cái nhà đó, dù cho thật mỉa mai, lúc đầu thì ông chống lại việc chuyển đến đây. Ông than về giá (đây là đề tài bất di bất dịch), và đến khi ông chịu thì cũng là với thái độ miễn cưỡng, khó chịu. Tuy thế, ông thanh toán bằng tiền mặt. Tất cả trong một lần. Không cần tín dụng, không cần thanh toán hàng tháng. Đấy là vào năm 1959 khi việc kinh doanh của ông đang thuận buồm xuôi gió.

Là con người của thói quen, ông luôn dạy sớm đi làm buổi sáng, làm quần quật cả ngày, rồi khi về nhà (vào những ngày không làm việc trễ) thì ngủ một giấc trước giờ ăn tối. Một vài lần vào trong tuần đầu ở nhà mới, trước khi nhà tôi dọn hẳn vào, ông có một nhầm lẫn kỳ quặc. Thay vì lái xe về nhà mới sau giờ làm việc, ông lái thẳng về nhà cũ, như ông đã từng làm thế trong nhiều năm trời, đỗ xe vào ngõ, bước vào nhà bằng cổng sau, lên cầu thang, đi vào phòng ngủ, nằm lăn ra giường, và rồi ngủ thiếp đi. Ông ngủ khoảng một tiếng. Không cần phải nói, khi bà chủ mới của căn nhà quay về, nhìn thấy một người lạ ngủ trên giường của mình thì bà ta hơi ngạc nhiên. Nhưng không giống cô bé Goldilocks , bố tôi không nhảy bật dạy và chạy trốn. Sự nhầm lẫn này cuối cũng được giải quyết, và tất cả mọi người được một trận cười. Ngay đến hôm nay, chuyện ấy vẫn làm cho tôi cười. Tuy việc chỉ có thế, tôi vẫn không thể không cho rằng đây là một câu chuyện thê thảm. Đã đành một người có thể lái xe về nhà cũ vì nhầm lẫn, nhưng nếu anh ta không nhận ra bất kỳ sự thay đổi nào trong đó thì là một câu chuyện hơi khác. Ngay cả một cái đầu mệt mỏi nhất, đãng trí nhất vẫn còn một góc phản xạ thuần tuý bản năng, định vị cho cơ thể. Người ta phải hoàn toàn vô thức thì mới không nhìn thấy, hoặc ít nhất là không cảm thấy, cái nhà không còn như trước. “Thói quen”, như một nhân vật của Beckett nói, “là một loại thuốc rất mạnh gây u mê”. Và nếu cái đầu không còn khả năng phản ứng với tín hiệu vật lý, thì nó sẽ phải xoay xở thế nào đây với những tín hiệu của cảm xúc.

Trong mười lăm năm cuối, ông không thay đổi bất kỳ cái gì ở trong nhà. Ông không thêm vào bất kỳ đồ đạc nào, ông cũng không bỏ đi. Tường giữ nguyên màu, nồi chảo không được thay, ngay cả quần áo của mẹ tôi cũng không vứt đi mà được dọn lên tầng áp mái. Chính kích thước của cái nhà đã miễn cho ông phải quyết định xem nó cần chứa cái gì. Không phải là ông bám vào quá khứ, giữ cái nhà giống viện bảo tàng. Ngược lại, ông có vẻ không để ý xem mình đang làm gì. Cái lãnh đạo con người ông là sự cẩu thả, chứ không phải ký ức, và mặc dù ông đã sống trong ngôi nhà ngần ấy năm, ông vẫn sống ở đó như một người lạ. Những năm qua đi, ông dành thời gian ở đó mỗi ngày một ít. Hầu như bữa nào ông cũng ăn ở ngoài quán, sắp xếp lịch giao tiếp xã hội thế nào để tối nào cũng bận, và sử dụng cái nhà chỉ hơn chỗ để ngủ một chút. Một lần, cách đây vài năm, tôi tình cờ nói với ông về số tiền tôi kiếm được bằng công việc viết lách và dịch thuật trong năm vừa qua (một đồng lương rẻ mạt theo bất kỳ chuẩn mực nào, nhưng còn hơn những gì tôi kiếm được trước đó), và câu trả lời thích thú của ông ấy là ông còn tiêu nhiều hơn như thế, chỉ riêng trong việc đi ăn quán. Cái cơ bản là tâm điểm của cuộc sống không phải là nơi ông ở. Cái nhà chỉ là một trong những điểm dừng trong sự tồn tại luôn ở thể động, không thả neo, và việc thiếu tâm điểm đã có hiệu ứng biến ông thành một người ngoài cuộc vĩnh viễn, môt người đi du lịch trong chính cuộc sống của mình. Bạn không bao giờ có được cảm giác xác định được ông ấy đang ở đâu.

Written by thichhoctoan

25/08/2012 at 03:22

Vũ trụ trong chiếc nón

with 11 comments

“Vũ trụ trong chiếc nón” : bài giảng của GS. Darriulat tại Viện nghiên cứu cao cấp về toán

*****

Thứ tư 18/7/2012, tại Viện nghiên cứu cao cấp về toán, GS. Darriulat sẽ đọc bài giảng có nhan đề “Vũ trụ trong chiếc nón”.

Đây là bài giảng đầu tiên trong chuỗi bài giảng Khoa học thưởng thức do Viện nghiên cứu cao cấp về toán tổ chức, dành cho đối tượng bao gồm những người có kiên thức chung về khoa học, nhưng không nhất thiết có hiểu biết chuyên môn sâu trong lĩnh vực của bài giảng. Diễn giả là những nhà khoa học hàng đầu, có liên quan trực tiếp tới những vấn đề nóng hổi và những tiến bộ gần đây nhất trong lĩnh vực được đề cập tới.

Sự kiện làm rung chuyển thế giới khoa học trong đầu tháng bảy 2012 vừa qua là công bố của hai nhóm thực nghiệm tại Viện nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN) về hạt boson Higgs. Loại hạt này cho phép giải thích cơ chế sinh ra khối lượng của các hạt cơ bản trong Mô hình chuẩn. Sự tồn tại của hạt Higgs được đưa ra như một giả thuyết trong những năm 1960. Nó là đối tượng của một cuộc săn đuổi kéo dài gần 50 năm và là một trong những lý do chính cho việc xây dựng máy gia tốc đối chùm hadron khổng lồ (LHC) ở CERN.

GS. Darriulat sống và làm việc ở Hà nội từ nhiều năm. Trước khi sang Việt nam, ông làm việc ở CERN với cương vị Giám đốc nghiên cứu.Ông là phát ngôn viên của nhóm thực nghiêm UA2 mà kết quả nghiên cứu
đã dẫn tới sự phát hiện ra boson W và Z chuyên trở lực tương tác yếu trong những năm 80.

Để tiện cho việc bố trí hội trường, đề nghị những quí vị dự kiến tới nghe bài giảng của GS. Darriulat,
đăng ký qua email trước ngày thứ hai, 16/7/2012. Địa chỉ liên lạc chinhbv viasm.edu.vn.

Bài giảng của GS. Darriulat bắt đầu lúc 15:30, tiệc trả bắt đầu lúc 15:00 ngày 18/7/2012 tại Viện nghiên cứu cao cấp về toán, tầng 7 Thư viện Tạ Quang Bửu, số 1 Đại Cồ Việt, Hà nội.

Written by thichhoctoan

12/07/2012 at 22:44

Posted in Bạn bè viết

Nhìn lại một năm

with 2 comments

Bài của GS. Hồ Tú Bảo đã đăng trên Tia Sáng.
*****

Một năm là quãng thời gian ngắn ngủi đối với một viện nghiên cứu, nhưng có thể nói một năm, và nhất là sáu tháng qua, Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán (VIASM) đã lặng lẽ hoạt động cho các mục tiêu và kế hoạch của mình, với sự tham gia và ủng hộ của đông đảo người Việt làm toán trong và ngoài nước, và nhiều nhà toán học xuất sắc trên thế giới.

Tuy đã bắt đầu hoạt động từ tháng 6 năm ngoái với các bài giảng của giáo sư Ngô Bảo Châu, các hoạt động chính của VIASM mới thực sự bắt đầu từ tháng 2 năm nay (2012), khi “nhóm tối ưu miền Nam” do giáo sư Phan Quốc Khánh của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì tới làm việc bốn tháng ở Viện (“Hình thức hoạt động chính của Viện là tổ chức các nhóm chuyên môn, tập hợp các nhà khoa học trong cùng một lĩnh vực đến làm việc ngắn hạn ở Viện.”, http://viasm.edu.vn/?page_id=36).

VIASM chủ trương tiến hành các hoạt động khoa học ngay khi ban giám đốc được bổ nhiệm và khi thuê được trụ sở tạm thời tại thư viện Tạ Quang Bửu của Đại học Bách khoa Hà Nội, cùng lúc với việc lập ban tư vấn quốc tế, hội đồng khoa học và văn phòng phục vụ cho các hoạt động của Viện. Các quy định về cách thức hoạt động, tiêu chí tuyển nghiên cứu viên và nhóm nghiên cứu, xét chọn các đề tài và nhóm nghiên cứu cho năm 2012 và 2013, tôn tạo 10 phòng làm việc khang trang cho các nghiên cứu viên, làm trang web của Viện… cũng được tiến hành trong thời gian này.

Điều dễ nhận thấy là sự minh bạch trong các hoạt động của Viện, với mọi thông tin như đề tài, nhân sự và kinh phí được nêu một cách rõ ràng trên trang web của Viện bằng tiếng Việt và tiếng Anh (http://viasm.edu.vn).

Một điều vẫn đáng bàn là tại sao lại nên có VIASM ở Việt Nam, điều mà nhiều người kể cả nhiều nhà khoa học vẫn còn băn khoăn. Một lý do là khi nhìn các nhà toán học làm việc ta thường chỉ thấy họ dùng giấy và bút hay bảng và phấn, nhưng ít thấy là họ cần và phải trao đổi rất nhiều với đồng nghiệp để hiểu các vấn đề phức tạp và hình thành các ý tưởng, và rồi cặm cụi tìm cách chứng minh chúng. Chính vì vậy nhiệm vụ chính của VIASM là cung cấp cơ hội để những người làm toán trong cùng một lĩnh vực đến đây (ít nhất là hai tháng) cùng trao đổi về những bài toán của mình.

Một lý do cơ bản khác là trong mấy trăm trường đại học và cao đẳng trên cả nước có hàng nghìn người dạy toán và nếu trong số này không có một vài trăm người làm nghiên cứu thì dễ có lúc các thầy cô dạy toán đại học của ta choáng ngợp về sự phát triển của toán học trên thế giới và có thể bị “cóng” mà không dạy nổi nữa. Để một vài trăm người này làm nghiên cứu theo được trình độ quốc tế, họ cần được hỗ trợ, như có những quãng thời gian đến làm việc ở VIASM với các chuyên gia. Những người làm toán hiểu sâu sắc rằng mục tiêu phát triển toán học của ta không phải vì một vị trí xếp hạng nào đó trên thế giới, mà để nâng chất lượng nghiên cứu và ứng dụng toán học, góp phần của toán học vào nền khoa học và công nghệ còn non yếu của ta, thậm chí để nuôi dưỡng và giữ được lực lượng nghiên cứu toán học của ta trong những năm tới.

Để được chọn đến VIASM làm việc, những người làm toán phải tập hợp được thành các nhóm với các đề tài có giá trị. Hai yêu cầu cơ bản là mỗi nhóm phải có một người chủ trì có uy tín về chuyên môn và phải mời được một vài chuyên gia loại hàng đầu thế giới cùng chuyên ngành đến làm việc ở VIASM với mình trong thời gian tối thiểu là hai tuần. Việc mời được các chuyên gia uy tín phụ thuộc vào quan hệ quốc tế của người chủ trì nhóm, và phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của giám đốc khoa học của Viện (ở châu Á, giáo sư Ngô Bảo Châu là người thứ tư được giải Fields, sau ba nhà toán học người Nhật). Có thể hiểu việc có các chuyên gia uy tín quốc tế thường xuyên đến làm việc cộng với điều kiện làm việc tốt, phù hợp với ngành toán của VIASM là nghĩa chính của hai chữ “cao cấp” trong tên gọi Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán.

Cách hoạt động hỗ trợ các nhà toán học đúng với đặc trưng ngành toán như ở VIASM đã phổ biến trên thế giới lâu nay, không chỉ ở các nước có nền toán học rực rỡ như Mỹ, Pháp, Nhật.. mà còn ở nhiều nước quanh ta như Ấn Độ, Hàn Quốc, Pakistan, Malaysia… Tuy nhiên, có những điều kiện cần để một viện như vậy có thể hiệu quả, như một người phụ trách có uy tín quốc tế cao.

Nhiều người có thể sẽ ngạc nhiên khi biết kinh phí dành cho VIASM không nhiều như có lúc đã thấy trên báo chí (thực ra 651 tỷ đồng là kinh phí cho ngành toán cả nước trong quãng thời gian 2010-2020). Trang web của VIASM cho biết Viện được cấp 4,4 tỷ VNĐ cho năm 2011 và 15 tỷ VNĐ cho năm 2012 (http://viasm.edu.vn/?page_id=3801). Kinh phí của VIASM năm 2012 như vậy là quãng 0,75 triệu USD, một con số thật khiêm tốn nếu so sánh với kinh phí 20 triệu USD hằng năm của Viện Toán cao cấp của Hàn Quốc, hoặc gấp quãng 8 lần kinh phí trung bình hàng năm của một giáo sư tại viện Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản (JAIST) ở Nhật.

Việc tuyển chọn các đề tài đến làm việc tại VIASM được hội đồng khoa học tiến hành nghiêm túc. Mỗi hồ sơ đề tài đều được đọc và thảo luận bởi toàn bộ 14 thành viên hội đồng sau khi nghe nhận xét chi tiết của ít nhất hai thành viên có chuyên môn gần với đề tài, và quyết định bởi giám đốc khoa học của Viện. Trong bốn tháng vừa qua, VIASM đã đem nhiều người làm toán trên cả nước, từ Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Quy Nhơn, Huế… và Hà Nội tới làm việc ở Viện.

Điều đáng nói là VIASM đã và đang là cầu nối và nơi đến của rất nhiều người Việt đang làm toán ở nước ngoài. Có VIASM những người làm toán này có thêm nơi để trở về góp sức với anh em làm toán trong nước. Họ về để chia sẻ với các đồng nghiệp trong nước những gì họ biết và đang làm. Riêng tại hội nghị toán học Việt-Pháp vào cuối tháng 8 năm nay ở Huế do Hội Toán học Việt Nam và Hội Toán học Pháp tổ chức với sự tham gia tích cực của VIASM, đã có hơn 50 nhà toán học người Việt ở nước ngoài đăng ký tham gia.

Cũng rất đáng nói là VIASM là nơi để nhiều nhà toán học lừng danh thế giới đến giúp đỡ các đồng nghiệp Việt Nam. Căn hộ công vụ nhà nước cấp cho giáo sư Ngô Bảo Châu được dùng làm chỗ ở cho các giáo sư nước ngoài đến làm việc ở VIASM, khi anh không ở Việt Nam. Nhiều người trong số họ, như giáo sư Thomas Hales từ Đại học Pittsburgh, có sở thích hằng ngày đi bộ từ tòa nhà có căn hộ này đến VIASM, đi trong cái nắng nóng và ồn ào xe cộ của Hà Nội.

Khuyến khích toán học ứng dụng

Điều cuối cùng tôi muốn nói là trong khi phần lớn các đề tài của VIASM là về các nội dung của toán học lý thuyết, thì ban giám đốc và hội đồng khoa học của VIASM cũng rất khuyến khích và ủng hộ các đề tài về toán học ứng dụng và toán học trong các khoa học khác. Riêng năm 2012 VIASM đã nhận hai đề tài về toán học trong khoa học máy tính (công nghệ thông tin). Một về các thuật toán tiến hoá để giải bài toán tối ưu nhiều mục tiêu, và một về các phương pháp thống kê hiện đại trong học máy.

Đề tài “Các phương pháp thống kê hiện đại trong học máy” tại VIASM là một đề tài chuyên biệt, gồm hoạt động nghiên cứu của một nhóm mười người cùng các bài giảng cho đông đảo người quan tâm về lĩnh vực này. Học máy (machine learning), còn gọi học tự động nhằm làm cho máy có một số khả năng học tập của con người là một trong những lĩnh vực phát triển sôi động của khoa học máy tính trong vòng hai chục năm vừa qua. Chính Bill Gates cũng cho là “mỗi đột phá trong ngành học máy có thể đáng giá mười Microsoft” (“a breakthrough in machine learning would be worth ten Microsofts”).

Bản chất của học máy là việc làm cho máy tính tự động phân tích được các tập dữ liệu lớn và phức tạp thu được từ mô tả và quan sát các hiện thực trong tự nhiên và xã hội giúp con người hiểu và dùng chúng. Ứng dụng của học máy có ở bất kỳ nơi đâu có những tập dữ liệu cần khai thác, như phân tích rủi ro trong hoạt động tài chính; dự đoán bệnh tật và hiệu quả của các loại thuốc; tìm kiếm thông tin trên web như ta vẫn dùng Google; tự động biết về nhu cầu và sở thích của khách hàng trong kinh doanh; dịch một văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt…

Đáng kể là trong vòng hơn một thập kỷ vừa qua, có một sự phát triển mạnh mẽ nhằm tạo ra và đưa các phương pháp toán học vào học máy tiêu biểu là các phương pháp đại số, đồ thị, tối ưu, giải tích hàm và xác suất thống kê để giải các bài toán khó của lĩnh vực này. Học máy là một ví dụ tiêu biểu cho thấy toán học có vai trò quyết định trong một khoa học khác, và những lý thuyết toán học hiện đại đang được dùng vào những ứng dụng rất thiết thực.

Các phương pháp học máy thống kê đã và đang thay đổi sâu sắc ngành học máy trong hơn một thập kỷ qua với những kết quả kỳ diệu. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh và phong phú này đã làm một bộ phận lớn của cộng đồng nghiên cứu học máy trên thế giới bị tụt lại, và có lẽ cũng làm cho rất nhiều người làm nghiên cứu và ứng dụng học máy ở Việt Nam không theo kịp.

Đề tài học máy thống kê tại VIASM từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 8 năm nay do một số giáo sư người Việt đang nghiên cứu trong lĩnh vực này tại Nhật, Mỹ, Úc chủ trì với sự tham gia của giáo sư John Lafferty từ Đại học Chicago, một chuyên gia học máy hàng đầu thế giới. Các lớp học của đề tài đã thu hút hơn 120 thầy cô giáo, cán bộ một số bộ ngành, công ty, nghiên cứu sinh và sinh viên trên cả nước đăng ký tham gia (http://viasm.edu.vn).

Năm hoạt động đầu tiên này cho phép ta hy vọng và tin rằng VIASM sẽ đạt được những mục tiêu của mình trong những năm tiếp theo.

Written by thichhoctoan

05/07/2012 at 14:58

Posted in Bạn bè viết, Toán