Thích Học Toán

Lexicon

with 6 comments

Lexicon cũ của Thích Học Toán. Đăng lại ở đây để chuẩn bị tiếp tục sự nghiệp blog hóa toán học.

*****

Nhiều người làm khoa học tự nhiên mắc cái tật coi thường ngôn ngữ, lạm dụng nó một cách không thương xót. Sớm muộn cũng cần một tổ chức như Greenpeace để chăm lo cho ngôn ngữ bị ngược đãi. Trong phòng máy tính ở trường Normale có một bộ sách dày hơn cả toàn tập Lenin, có tiêu đề là Unix manuals. Dạo đó tác phẩm này hình như là kinh thánh cho các đồng môn tin tặc của tôi. Tôi cũng mở nó ra vài lần nhưng đóng lại ngay vì có cảm giác rờn rợn rằng cái hộp Pandora hiện đại này là hiện thân của quỷ xa-tăng, sử dụng ngôn ngữ của quỉ chứ không phải của người. Thế giới vạn vật do chúa trời tạo ra nhưng cái đơn ánh vĩ đại, gọi là lexicon, giữa tập hợp hữu hạn của vạn vật vào trong tập hợp vô hạn của ngôn từ thì là tác phẩm của con người. Trong cựu ước, sau khi chúa nặn ra anh Adam từ đất sét, chúa ân cần bảo anh : “Con hãy đặt tên cho vạn vật và muôn loài”. Việc đặt tên, đặt tên như thế nào cho không tự mâu thuẫn, chính là công cụ đầu tiên của anh Adam trong sự nghiệp chinh phục vũ trụ. Có một anh nào đó, tôi quên mất tên, hình như là Wittgenstein, còn chua thêm một câu xanh rời : “Biên giới của suy nghĩ của anh chính là biên giới của ngôn ngữ của anh”. Nghe có vẻ chắc nịch kiến thức đấy, nhưng không gợi cảm như cựu ước. Theo ý kiến ngu của bần đạo, toán học và thực ra tất cả các ngành khoa học do con cháu anh Adam sáng tác, đều chỉ là những trò chơi ngôn ngữ, với luật chơi khác nhau. Nhưng là những trò chơi vô cùng thú vị, gần bằng trò túc cầu của chàng Maradona.

Chúng ta sẽ xây dựng lexicon tí hon cho thuật ngữ toán dựa theo phân loại động vật của Borges (ai chưa biết nên biết không thì phí). Có thuật ngũ chưa tồn tại trong tiếng việt, ta thoải mãi sáng tác. Có nhiều thuật ngữ chưa có tính đồng thuận cao, cần được thảo luận. Có những thuật ngữ đã có tính đồng thuận, nghe như đinh đóng vào đầu mà ta vẫn phải chấp nhận theo nguyên tắc tôn trọng số đông. Bạn đọc có ý kiến gì xin mạnh dạn phát biểu, bần đạo sẽ thay đổi trang nào theo nguyên tắc wiki rởm. Lúc nào mỏi quá thì phải trông chờ một tấm lòng cao cả nào đó dựng hộ một trang wiki thiệt để bào trì cái lexicon này.

1) Phạm trù (category) :

Nội tại trong phạm trù có vật (object) và giữa các vật có các mũi tên (morphism). Đôi khi thay bởi vật và mũi tên, ta còn nói đối tượngcấu xạ. Cấu trúc cơ bản của phạm trù là phép hợp thành của mũi tên.

Giữa hai phạm trù thì có các hàm tử (functor). Giữa hai hàm tử thì có các biến đổi tự nhiên (natural transformation).

Phỏng nhóm (groupoid) là một loại phạm trù đặc biệt trong đó mọi mũi tên đều nghịch đảo được (hậu tố “id” dịch là phỏng).

2) Nhóm (group)

Giữa các nhóm có đồng cấu nhóm (homomorphism). Trong thực tế chữ nhóm trong “đồng cấu nhóm” hay bị bỏ quên còn tiền tố “homo” trong homomorphism có vẻ không cần thiết nhưng người ta vẫn giữ theo thói quen. Ứng với mỗi đồng cấu nhóm, ta có hạch của nó (kernel), ảnh của nó (image). Hạch còn được gọi là nhân. Đối với nhóm abel, ta còn có đối hạch hoặc đối nhân (cokernel) và đối ảnh (co-image. Những chữ này thường gặp khi ta làm việc với phạm trù abel.

Trong nhóm có nhóm con (subgroup). Nhóm con chuẩn tắc là thuật ngũ tiếng việt chuẩn tắc trước sự lúng túng trong tiếng nước ngoài (normal subgroup=distinguished subgroup).

Trong nhóm còn có các lớp kề (coset). Còn double coset thì biết kinh dịch là lớp kề đúp, mặc dù lớp kề kề nghe cũng khá sát ?

Trong nhóm, có một hoạt động vô cùng sảng khoái gọi là liên hợp (conjugation) và nó đẻ ra các lớp liên hợp (conjugacy class).

Một số loại nhóm có tính chất đặc biệt : nhóm giải được (solvalble group), nhóm lũy linh (nilpotent group).

3) Trường (field). Có hai mở rộng ứng với mọt đa thức là trường phân rã (decomposition field) và trường gián đoạn (rupture field). Bạn scapa có gợi ý chữ trường nứt cho rupture field, nhưng sau cùng tôi thấy chữ trường gián đoạn chính xác hơn một tí. Trường gián đoạn làm cho đa thức bất khả qui nứt ra một mẩu bậc một, trường phân rã làm cho đa thức phân rã hoàn toàn thành các mẩu bậc một.

4) Đồng luân (homotopy), đồng điều (homology), đối đồng điều (cohomology). “Đối đồng điều” nghe khó nghe nhưng là thuật ngũ đã có tính đồng thuận cao. Thực ra ngay trong tiếng tây, từ cohomologie cũng đã rất khó nghe. Trong đại số đồng điều (homologival algebra), còn có khái niêm phức hợp (complexe), nghe cũng như đấm vào tai, nhưng bạn Nhị Linh lại có vẻ thích. Nhìn chung, từ vựng trong mảng này rất tối nghĩa : ta có khái niệm (sheaf) lại còn có cả tiền bó (presheaf). Vì mấy khái niệm này chưa phổ biến lắm, nên ta thí nghiệm đổi dịch sheaf từ bó thành thếp (cảm ơn 5xu), còn presheaf có thể dịch thành trước thếp.

Từ nghe hay hay là từ hàm tử dẫn xuất (derived functor).

5) Đa tạp (manifold) có thể là vi phân (differential), giải tích (analytic) hoặc đại số (algebraic) từ đó có các loại hình học : vi phân, phức và đại số. Trong hình học đại số, ta có thêm khái niệm lược đồ (scheme hay schéma trong tiếng pháp). Các hình học gia thích ăn phân thớ (bundle). Họ có phân thớ tiếp xúc (tiếng Pháp gọi là fibré tangent), phân thớ đối tiếp xúc (cotangent bundle). Dịch theo tiếng Anh chùm tiếp tuyến (tangent bundle) và chùm đối tiếp tuyến cũng sát với trực quan. Thực ra ta có thể dùng thoải mái cả hai thuật ngữ. Trong hoàn cảnh nhúng, ta có thêm phân thớ chuẩn tắc (fibré normal) hoặc chùm chuẩn (normal bundle) cũng vậy. Fibré canonique hoặc canonical bundle thì gọi là phân thớ chính tắc hoặc là chùm chính tắc (cảm ơn Stchoupi).

6) Bỏ cái tên đặt tạm tạm lý thuyết trờm lước (class field theory) để từ nay dùng thuật ngữ chính qui lý thuyết trường của lớp. Luật tương hỗ (reciprocity) lúc đầu thì toàn phương (quadratic) sau đó thì lập phương (cubic) rồi bây giờ phát triển hỗn loạn. Nói đến trờm lước, trước sau sẽ phải cho hai nhân vật adeles và ideles vào cuộc. Để tạo ra từ thuần việt, chúng ta sẽ gọi các bạn này là a đẻni đẻn để tưởng nhớ cầu thủ bóng đá vĩ đại Ba Đẻn. Trên các trường toàn cục, có các chỗ (places) hữu hạn và vô hạn tương ứng là các trị tuyệt đối của nó. Khi mở rộng trường, ngoài một số hữu hạn chỗ bị rẽ nhánh. một có số vô hạn chỗ trơ (inert) và vô hạn chỗ chẻ (split). Split không dịch là tách vì chữ tách đã được dùng để chuyển nghĩa cho separable. Chữ chẻ cũng sát với trực quan toán học hơn.

7) Khái niệm ideal của đại số giao hoán thườn được phiên âm thành iđêan. Tôi băn khoăn tại sao người ta không dịch đơn giản là lý tưởng. thỉnh thoảng đùa rỡn với lý tưởng cũng là một dạng thể dục sảng khoái. Còn module thì phiên âm thành mô đun.

8 ) Ba chữ giới hạn, hội tụ, xấp xỉ có nghĩa na ná như nhau trong toán. Thuật ngữ tương đương trong tiếng Anh là limit, convergence, approximation. Để diễn đạt nghĩa thông thường của chữ giới hạn, trong toán người ta dùng chữ bị chặn, chặn trên hoặc chặn dưới. Chữ giới hạn được dùng riêng để chỉ nơi một dãy Cauchy hội tụ đến. Còn chữ xấp xỉ được dùng khi ta bắt đầu bằng giới hạn, các thành viên của dãy hội tụ được coi là xấp xỉ của giới hạn của dãy, tùy theo dãy hội tụ nhanh hay chậm, ta nói xấp xỉ này tốt hay tồi. Cả ba chữ đều dùng để mô tả cùng một hiện tượng.

9) Biểu diễn của một nhóm là một đồng cấu từ nhóm này vào nhóm các biến đổi tuyến tính của một không gian vec tơ. Thuật ngữ tiếng Anh là representation. Ứng với mỗi biểu diễn là ký tự (character) của nó. Ký tự là hàm trên nhóm cho ứng mỗi phần tử của nhóm với vết của toán tử tuyến tính biểu diễn nó.

Tạm thời thế đã, điền thêm vào cái Borges’ lexicon này sau.

Written by thichhoctoan

06/10/2011 lúc 21:14

6 phản hồi

Subscribe to comments with RSS.

  1. giờ e mới hiểu thầy Thích Giác Ngôn nói… anh thì nói đúng 1 số từ thôi 😀 đối với e Giải thưởng “Trường” của a chẳng có ý nghĩa gì… 1 bài giải mà hàng chục trang thì ai thèm đọc… giờ lại phải đi “cắt nghĩa” cho mọi người hiểu…Tất cả đã an bài rồi anh ạ, Em xin chúc mừng anh!

    vietiep

    12/11/2011 at 23:59

  2. Muốn xem lại bài viết của anh chứng minh Định lý Dirichlet về sự tồn tại số nguyên tố trong cấp số cộng mà chẳng tìm thấy ở đâu cả. Anh có thể post lại bài viết đó được không ?
    Xin cám ơn anh nhiều !

    Vương Linh

    28/02/2012 at 04:04

    • Đọc lại bài đó thấy dở quá. Lúc nào tôi sẽ viết lại.

      thichhoctoan

      28/02/2012 at 20:39

  3. Hôm nay tình cờ tìm gì đó trên google mà có duyên gặp “đồng luân” 🙂 và có dịp ghé lại blog của bạn. Đồng luân nghe hay mà cũng hợp (luân đây chắc nghĩa thứ, cung, bậc, … như ngũ luân, tuyệt luân?).

    Nhưng mà “bó” vẫn hay và hợp hơn chứ (với lại hình như cũng đã gọi vậy trong nước?)?!! Tiếng Đức (xưa mình học đại số giao hoán ở Đức) vẫn gọi là Garbe (nghĩa đen y như sheaf hay faisceau), và họ cũng ráp đại Prä- Latinh vô Garbe thuần Đức, có sao đâu. Hay là chùm, cụm… Thếp thì có vẻ gì …phăng phẳng làm sao á?!!

    Cohomology lẽ ra là “đồng-đồng điều” chứ (vì co- nghĩa là với, cùng, đồng, như co-variant, … nếu là “đối” thì contravariant phải là gì nhỉ?). Nhưng nếu đã đồng (đối) thuận thì chịu vậy.

    Còn Ideal rất nên là lý tưởng ạ, vì nó như lý tưởng ý, cứ cuốn theo hết mà :-))

    Chúc Châu luôn đầy sáng tạo trong mọi việc.

    NTV

    Nguyen Thuong Viet

    03/03/2012 at 17:14

  4. Đợi bài viết của anh về Định lý Dirichlet về sự tồn tại số nguyên tố trong cấp số cộng lâu quá (có lẽ do anh quá bận rộn). Anh post lại bài viết cũ đi thôi.
    Xin cám ơn anh nhiều.

    Vương Linh

    09/05/2012 at 07:43

  5. Đã hơn 1 năm rồi, hình như anh cũng không có ý định viết lại bài đó thì phải.

    Vương Linh

    28/03/2013 at 08:46


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: